Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương này thể hiện những nội dung khái quát của nghiên cứu như tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, chương cũng đề cập đến phương pháp nghiên cứu, kết cấu của đề tài cũng như ý nghĩa thực tiễn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này lược khảo các khái niệm cơ bản, các mô hình cơ sở, tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài. Từ đó, đề xuất các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày những nội dung liên quan đến quy trình nghiên cứu, các bước chọn mẫu và kích thước mẫu, các bước phân tích số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này đưa ra các kết quả phân tích dữ liệu đã thu thập được và thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5: Ket luận và giải pháp Từ kết quả nghiên cứu, chương này đề xuất các giải pháp nâng cao sự gắn kết của nhân viên tại ou. Bên cạnh đó, chương cũng đưa ra các hạn chế trong phạm vi đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo. 10 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.
Các khái niệm liên quan 2. Sự gắn kết của nhân viên Để duy trì năng suất và hiệu quả chức năng ở mức cao, các tổ chức phải đảm bảo rằng nhân viên của họ được tập trung, đầu tư toàn bộ sức lực để hoàn thành nhiệm vụ. Khái niệm về sự gắn kết của nhân viên được phát triển bởi Kahn (1990). Kahn (1990) đặt ra thuật ngữ gắn kết cá nhân để nắm bắt trạng thái tâm lý nhân viên và khai thác toàn bộ giá trị cá nhân của họ.
Các nhà nghiên cứu đã định nghĩa khác nhau về sự gắn kết của nhân viên như một phẩm chất nhận thức, một cam kết cảm xúc hoặc một trạng thái hành vi tích cực được định hướng để hướng tới kết quả của tổ chức, và các hành động mà nhân viên thực hiện để đảm bảo thành công của tổ chức (Saks, 2006; Andrew và Sofian, 2012; trích bởi Tepayakul và Rinthaisong, 2018). Schaufeli, Salanova, González-Romá, và Bakker (2002) đã xây dựng khái niệm gắn kết tại noi làm việc và định nghĩa nó là “trạng thái tinh thần tích cực, thỏa mãn, liên quan đến công việc được đặc trưng bởi sức sống, sự cống hiến và sự say mê”. Được sử dụng thay thế cho nhau, thuật ngữ gắn kết nhân viên/công việc được khái niệm hóa như một cấu trúc tổng thể bao gồm năng lượng thể chất, nhận thức và cảm xúc và được biểu hiện như một trạng thái dành tất cả năng lượng cho công việc để tạo ra sự khác biệt (Mackay, Allen, và Landis, 2017). Byrne (2015) giải thích thuật ngữ sự gắn kết của nhân viên như sau: “khi nhân viên đang ở trong trạng thái gắn kết, họ sử dụng và kết hợp các mức độ khác nhau của cảm xúc và nhận thức bản thân khi họ chuyển đổi nhiệm vụ công việc và các hoạt động cụ thể của mình thành thành tựu ý nghĩa”.
Nhân viên gắn kết cao thể hiện niềm dam mê với công việc của họ, hiểu tầm quan trọng của công việc của họ và thể hiện lòng trung thành với tổ chức của họ hom so với nhân viên thảnh thơi (Ismail, Iqbal, và Nasr, 2018). 11 Sự gắn kết của nhân viên là một hành vi của các cá nhân, họ đến hoặc rời đi trong quá trình đạt được hiệu quả công việc của họ. Sự gắn kết của nhân viên được sử dụng như một thái độ cũng như hành vi (Tepayakul và Rinthaisong, 2018). Gắn kết từ quan điểm của một nhân viên là quan trọng như nhau.
Có thể cho rằng, nhân viên muốn mối quan hệ tốt nhất có thể với tổ chức của họ và họ muốn được cung cấp những thứ tốt nhất trong hoàn cảnh có thể, hoặc môi trường mà sẽ làm cho họ hạnh phúc hơn, cảm thấy có giá trị và cảm thấy được tham gia vào tổ chức (Robinson và cộng sự, 2004). Sự gắn kết của nhân viên là họ sẵn sàng “đi xa hơn”, thường là do họ đầu tư nhiều hơn bản thân trong công việc và tìm thấy ý nghĩa và thách thức trong đó. Hơn nữa, nhân viên gắn kết dường như có nhiều hơn mối quan hệ tin cậy và trung thành với tổ chức, có khuynh hướng giúp đỡ đồng nghiệp, và dam mê hơn về công việc của họ (Bakker và cộng sự, 2011). Tóm lại, sự gắn kết của nhân viên là một trạng thái được bản thân kích hoạt toàn bộ để mang lại điều gì đó khác biệt cho công việc, trợ giúp về công việc; đồng thời, phục vụ như một bộ đệm chống lại các yêu cầu; nhu cầu công việc thường được coi là một căng thẳng nhưng có thể hoạt động như một trở ngại hoặc một thách thức thúc đẩy các hành vi mong muốn, tùy thuộc vào năng lực ứng phó của nhân viên (Kwon và Kim, 2019).
Hơn nữa, Robinson, Perryman, và Hayday (2004) đã mô tả các đặc điểm của hành vi gắn kết của nhân viên bao gồm: tìm kiếm và được trao cơ hội để cải thiện hoạt động của tổ chức, tích cực về công việc hiện tại của tổ chức, tin vào tổ chức, làm việc tích cực để làm cho mọi thứ tốt hơn, đối xử với người khác một cách tôn trọng và giúp đõ đồng nghiệp thực hiện công việc có hiệu quả, có thể tin cậy được và vượt xa yêu cầu của công việc, nhìn thấy bức tranh lớn hơn, và theo kịp đến ngày có được sự phát triển trong lĩnh vực của họ. Lãnh đạo chuyển đổi Tại nơi làm việc, các nhà lãnh đạo ảnh hưởng đến hành vi của các thành viên, bởi vì chúng được xem như là một ví dụ đại diện của tổ chức và có thẩm 12 quyền đánh giá hiệu suất của các thành viên hoặc đưa ra các quyết định liên quan đến việc thăng tiến của họ (Lai, Tang, Lu, Lee, và Lin, 2020). Do đó, hành vi của các nhà lãnh đạo có thể định hình cách cư xử của các thành viên. Là một phong cách lãnh đạo phổ biến, tất cả các cấp lãnh đạo trong tổ chức có thể thể hiện sự lãnh đạo chuyển đổi qua bốn hành vi: lãnh đạo có sự lôi cuốn, lãnh đạo truyền cảm hứng, kích thích trí tuệ, và sự xem xét cá nhân.
Các nhà lãnh đạo chuyển đổi có thể thay đổi hành vi của các thành viên, khuyến khích họ vượt quá mong đợi (Bass, 1985). Khi được áp dụng đúng đắn, lãnh đạo chuyển đổi giúp tăng cường động lực, tinh thần và hiệu suất của những cấp dưới thông qua một loạt các cơ chế, bao gồm gắn kết ý thức và bản thân cấp dưới với nhiệm vụ và bản sắc tập thể của tổ chức, truyền đạt cảm hứng, hiểu rõ điểm mạnh và điểm yếu của cấp dưới để sắp xếp nhiệm vụ phù hợp cho họ. Lãnh đạo chuyển đổi có thể xuất hiện ở mọi cấp của tổ chức: các nhóm, phòng ban, bộ phận hoặc toàn bộ tổ chức (Lai và cộng sự, 2020). Tiền lương và phúc lợi Robbins và Judge (2013) cho rằng lương và phúc lợi bao gồm các khoản tiền lương cơ bản, phụ cấp, tiền thưởng và các loại phúc lợi khác.
Theo Armstrong và Taylor (2017), thu nhập là khoản thanh toán cho công việc, có thể có nhiều hình thức khác nhau bao gồm mức lương cơ bản, tiền lương bổ sung trả bằng tiền mặt và phúc lợi. Vì vậy, tiền lương và phúc lợi còn có thể gọi chung là thu nhập.Theo Dessler (2019), thu nhập là khoản thù lao thuộc về tài chính và phi tài chính do người chủ trả bởi thời gian, kỹ năng và nỗ lực làm việc của nhân viên để hoàn thành công việc nhằm đạt mục tiêu tổ chức. Phúc lợi là phần thù lao gián tiếp được trả dưới dạng các hỗ trợ về cuộc sống cho người lao động (Dessler, 2019). Các khoản tiền tuy gọi là thưởng nhưng lại trả bằng nhau cho nhân viên không phân biệt kết quả làm việc như “thưởng” trong các ngày lễ, “tháng lương thứ 13”.
về bản chất là phúc lợi. Hợp đồng tâm lý Quản lý trong lĩnh vực giáo dục đại học có thể thấy rằng khái niệm về một hợp đồng tâm lý cung cấp một phương tiện mạnh mẽ, là đòn bẩy của tổ chức trong việc theo đuổi việc giữ chân nhân viên và mức độ cam kết tổ chức của nhân viên cao hơn. Những người lao động tri thức có trình độ chuyên môn, giáo dục và kinh nghiệm cao và mục đích liên quan đến việc tạo ra, phân phối và ứng dụng kiến thức (Davenport, 2005). Nếu các tổ chức không thể có được, phát triển và giữ chân những nhân viên tài năng như vậy, họ sẽ không thể tạo ra những sinh viên tốt nghiệp có chất lượng cao để đóng góp cho nền kinh tế cũng như không hoàn thành mục tiêu mở rộng tổ chức của họ (Badat, 2010).
Đe làm được như vậy kỳ vọng nhất định của người lao động cần được người sử dụng lao động đáp ứng (Naidoo, Abarantyne, và Rugimbana, 2019). Những kỳ vọng này của nhân viên tạo thành một hợp đồng bất thành văn được gọi là hợp đồng tâm lý (Aggarwal và Bhargava, 2009). Khái niệm về hợp đồng tâm lý là một khuôn khổ được áp dụng như một phương tiện để hiểu và quản lý các mối quan hệ việc làm (Naidoo và cộng sự, 2019). Hợp đồng tâm lý được phân loại theo hai kích thước cơ bản: giao dịch và quan hệ.
Hợp đồng giao dịch đề cập đến một phạm vi hẹp các hành vi trong một khoảng thời gian giới hạn, nhấn mạnh phần thưởng tài chính. Mặt khác, các hợp đồng quan hệ dựa trên một mối quan hệ dài hạn, trong đó phạm vi rộng hơn về lợi ích và cơ hội được cung cấp để đổi lấy một lợi ích sâu hơn và nhiều hơn, cam kết sâu hơn và rộng rãi hơn với tổ chức. Các hợp đồng này có xu hướng phi cấu trúc hơn, không chắc chắn và kết thúc mở và dựa vào mức độ tin cậy cao hơn (Middlemiss, 2011). Một sự chồng chéo đáng kể đã được xác định, với các khía cạnh như tiền lương có mặt trong cả hai.
Lý thuyết cân bằng của Barnard 1(938) đề cập đến một mối quan hệ việc làm như một sự trao đổi, cho thấy rằng một sự tham gia liên tục của nhân viên trong một 14 tổ chức phụ thuộc vào phần thưởng xứng đáng nhận được từ người sử dụng lao động (Coyle-Shapiro và Parzafall, 2008). Thuật ngữ hợp đồng tâm lý được Argyris sử dụng đầu tiên vào đầu những năm 1960. Loại hợp đồng này tập trung rõ ràng vào nhận thức của nhân viên về thỏa thuận việc làm (Hõglund, 2012).