Chương 1, tác giả đã trình bày lý do của việc lựa chọn nghiên cứu đề tài, cũng như mục tiêu mà nghiên cứu này sẽ hướng đến, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu mà tác giả sẽ sử dụng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu nàycũng đã được trình bày. Bố cục của bài nghiên cứu được thiết kế năm chương của một nghiên cứu định tính kết hợp định lượng. 6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức 2. Định nghĩa Có nhiều ý kiến khác biệt về định nghĩa sự gắn kết với tổ chức do không có sự nhất trí giữa các nhà nghiên cứu trong việc định nghĩa cũng như đo lường sự gắn kết với tổ chức. Theo Allen và Meyer (1990) thì sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là một trạng thái tâm lý buộc chặt cá nhân với tổ chức, liên hệ mật thiết đến quyết định có tiếp tục là thành viên của tổ chức hay không. Theo Northcraft and Neale (1996), sự gắn kết là biểu hiện của cá nhân vớitổ chức thể hiện lòng trung thành và niềm tin vào các giá trị của tổ chức.
(2003) cho rằng sự gắn kết với tổ chức là sự quyết tâm của một cá nhân tham gia tích cực trong một tổ chức cụ thể. Theo nghiên cứu của Ilies, R. (2003) thì sự gắn kết được định nghĩa như là sự sẵn sàng nỗ lực hết mình vì sự phát triển của tổ chức, đồng nhất mục tiêu của tổ chức với mục tiêu của chính mình. Các thành phần của sự gắn kết với tổ chức Theo Robinson, et al.
(2004) thì đo lường sự gắn kết của NLĐ với tổ chức thông qua 12 biến quan sát. Bao gồm: (i) Nhân viên nói với bạn bè về tổ chức một cách tự hào; (ii) Bạn bè và gia đình của nhân viên hạnh phúc khi họ sử dụng các sản phẩm/dịch vụ của tổ chức; (iii) Tổ chức được mọi người biết đến vì có một người chủ tốt; (iv) Một cách tổng quát thì tổ chức này có danh tiếng tốt; (v) Nhân viên sẽ tự hào khi kể cho người khác biết rằng họ là một phần của tổ chức;(vi) Tổ chức thực sự truyền cảm hứng để nhân viên đạt hiệu suất công việc tốt nhất; (vii) Cảm thấy giá trị của tổ chức cũng là giá trị của bản thân nhân viên; (viii) Nhân viên luôn làm nhiều hơn so với yêu cầu thực sự của công việc; (ix) Nhân viên luôn cố giúp đỡ người khác trong tổ chức bất cứ khi nào có thể; (x) Nhân viên luôn theo kịp những tiến bộ trong lĩnh vực của mình; (xi) Nhân viên luôn tự nguyện làm những việc ngoài nhiệm vụ được giao để giúp tổ chức đạt mục tiêu đã đặt ra; và (xii) Nhân viên thường xuyên đề xuất ý kiến để cải thiện công việc của nhóm/bộphận/dịch vụ. Đỗ Thụy Lan Hương (2008) cho rằng đo lường “sự cam kết gắn bó với tổ chức” của NV đang làm việc trong các DN tại Tp.HCM bằng 6 biến quan sát: (i) Sẵn sàng đặt mọi nỗ lực để giúp cho tổ chức thành công; (ii) Trung thành với tổ chức; (ii) Chấp nhận mọi sự phân công công việc để có thể tiếp tục làm việc trong tổ chức; (iv) Vui mừng chọn tổ chức này để làm việc; (v) Cảm thấy tự hào là một phần trong tổ chức; (vi) Rất quan tâm về số phận của tổ chức. 7 Đặng Thị Ngọc Hà (2010) cho rằng đo lường sự gắn kết của NLĐ với các đơn vị vận tải trên địa bàn Tp.HCM qua 3 khía cạnh: Gắn kết với tổ chức vì tình cảm; Gắn kết với tổ chức để duy trì; và Gắn kết với tổ chức vì đạo đức.
+ Thang đo “Gắn kết với tổ chức vì tình cảm” bao gồm 7 biến quan sát: (i) Về một số phương diện, xem công ty như mái nhà thứ hai của mình; (ii) Tự hào vì được làm việc trong công ty; (iii) Vui mừng vì đã chọn công ty để làm việc; (iv) Công ty có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhân viên; (v) Cảm nhận là một thành viên trong gia đình công ty; (vi) Cảm thấy các vấn đề khó khăn của công ty cũng là các vấn đề của nhân viên; (vii) Có cảm nhận là thuộc về công ty. + Thang đo “Gắn kết với tổ chức để duy trì” bao gồm 6 biến quan sát: (i) Ở lại với công ty bây giờ là cần thiế; (ii) Cảm thấy rời công ty lúc này là khó khăn; (iii) Cuộc sống sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều nếu rời bỏ công ty vào lúc này; (iv) Nếu rời công ty vào lúc này sẽkhông có nhiều sự lựa chọn khác; (v) Nếu không đầu tư rất nhiều vào trong công ty, thì có lẽ đã rời khỏi công ty; (vi) Nếu rời công ty, sẽ khó kiếm được việc làm khác như ở công ty. + Thang đo “Gắn kết với tổ chức vì đạo đức” bao gồm 6 biến quan sát: (i) Cảm thấy phải có trách nhiệm ở lại với công ty; (ii) Mặc dù có công việc tốt hơn ở nơi khác nhưng cảm thấy việc rời khỏi công ty là không nên; (iii) Cảm thấy có lỗi nếu rời công ty vào lúc này; (iv)Công ty xứng đáng với lòng trung thành của nhân viên; (v) Không thể rời công ty vào lúc này vì cảm nhận trách nhiệm với mọi người trong công ty; (vi) Công ty đã mang lại cho nhân viên nhiều thứ, cảm thấy “mắc nợ” với công ty nhiều quá. Nguyễn Văn Điệp (2010) cho rằng đo lường sự gắn kết của NV với Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua 3 thành phần là “Nỗ lực”; “Tự hào”; và “Trung thành”.
+ Thang đo “Nỗ lực” bao gồm 4 biến quan sát: (i) Sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân khi cần thiết để giúp tổ chức thành công; (ii) Tự nguyện nỗ lực hết mình nâng cao kỹ năng để có thể cống hiến nhiều hơn cho công việc; (iii) Vui mừng khi những cố gắng của mình đã đóng góp tốt cho công ty; (iv) Sẵn sàng hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì mà công ty yêu cầu. + Thang đo “Tự hào” bao gồm 5 biến quan sát: (i) Khách hàng thích và đánh giá cao công ty; (ii) Công ty hoạt động tốt hơn các công ty khác; (iii) Công ty đối xử hòa nhã, lịch sự với khách hàng; (iv) Sản phẩm, dịch vụ của Công ty đạt chất lượng cao; (v) Nhìn chung, công ty đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả. + Thang đo “Lòng trung thành” bao gồm 4 biến quan sát: (i) Vui mừng ở lại lâu dài cùng tổ công ty; (ii) Sẽ ở lại cùng tổ công ty mặc dù có nơi khác đề nghị lương bổng hấp dẫn hơn; (iii) Không muốn chuyển đi công ty khác dù cho tổ 8 công ty có kết quả tài chính không tốt; (iv) Là thành viên của công ty là điều rất quan trọng đối với. Theo Võ Ngọc Mai (2012) thì đo lường sự gắn kết của NLĐ với Công ty CSC Việt Nam thông qua 5 biến quan sát: (i) Là một thành viên của tổ chức này rất hấp dẫn; (ii) Một trong những điều thú vị nhất là tham gia vào những điều xảy ra trong tổ chức; (iii) Nhân viên thật sự không quan tâm đến những hoạt động của tổ chức này; (iv) Là một thành viên của tổ chức này làm cho nhân viên thấy còn có giá trị; (v) Gắn bó rất nhiều vào tổ chức này.
Trên cơ sở tham khảo các thang đo về sự gắn kết của NLĐ với tổ chức được đề cập ở trên, trong đề tài này, “Sự gắn kết của nhân viên với doanh nghiệp” được đo lường bằng 6 biến quan sát. Cụ thể như sau: ● Luôn tự nguyện nỗ lực nâng cao kỹ năng để có thể cống hiến nhiều hơn cho công việc. ● Sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân khi cần thiết để giúp đỡ tổchức/nhóm làm việc thành công. ● Tự hào khi nói với người khác về doanh nghiệp nơi mình làm việc.
● Giới thiệu về sản phẩm, dịch vụ của tổ chức là thứ tốt nhất mà khách hàng có thể mua. ● Chấp nhận mọi sự phân công công việc để có thể tiếp tụclàm việc trong doanh nghiệp. ● Xem doanh nghiệp là mái nhà thứ hai của mình. Mối quan hệ giữa thực tiễn quản trị nguồn nhân lực và sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức Hoạt động QTNNL liên quan đến tất cả các vấn đề về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao cho cả tổ chức lẫnnhân viên.
Trong thực tiễn, những hoạt động này đa dạng, phong phú và rất khác biệt tùy theo các đặc điểm về cơ cấu tổ chức, công nghệ kỹ thuật, nhân lực, tài chính, trình độ phát triển của các tổ chức. Tuy không nhiều nhưng cũng có một số nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa thực tiễn quản trị nguồn nhân lực và sự gắn kết với tổ chức. Gaertner and Nollen (1989) tìm thấy sự gắn kết với tổ chức của nhân viên có liên quan đến công tác QTNNL, cụ thể là sự thăng tiến, cơ hội được đào tạo, công việc ổn định. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mối quan hệ giữa thực tiễn QTNNL và sự gắn kết không phải là mối quan hệ trực tiếp và ràng buộc.
Chẳng hạn như Kinicki et al (1992) nhận thấy rằng mối quan hệ giữa thực tiễn QTNNL và sự gắn kết phải qua trung gian là sự cảm nhận được của nhân viên về những lợi ích mà các hoạt động QTNNL mang lại như được huấn luyện, thăng chức…Tương tự như vậy, Koys (1988, 1991) phát hiện ra rằng sự gắn kết với tổ chức của nhân viên có liên quan đến niềm tin của họ rằng các công tác QTNNL 9 của tổ chức hướng đến việc thu hút và giữ chân những nhân tài và có chính sách đối xử công bằng. Ngược lại, sự gắn kết không liên quan đến sự cảm nhận rằng những hoạt động nhân sự là nhằm mục đích tăng năng suất lao động hoặc để tuân thủ theo luật lao động. Mô hình nghiên cứu Nghiên cứu thực hiện đo lường tác động của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực đến mức độ gắn kết của nhân viên được tổng hợp qua kết quả của nghiên cứu trước đây, kinh nghiệm thực tiễn, kết quả thảo luận nhóm và tham khảo ý kiến của các chuyên gia. Mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực đến mức độ gắn kết của nhân viên tại ngân hàng BIDV chi nhánh Tây Nam thể hiện trong Hình 2.