phần mở đầu, phần nội dung nghiên cứu và phần kết luận, kiến nghị, nội dung luận văn chia làm 3 chƣơng. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động. Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho đội ngũ viên chức tại Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Thừa Thiên Huế Chƣơng 3. Một số giải pháp tạo động lực làm việc cho đội ngũ viên chức tại Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Thừa Thiên Huế 9 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Lý luận chung về động lực làm việc của ngƣời lao động 1. Khái niệm động lực làm việc và các vấn đề liên quan Động lực Trên thực tế có nhiều quan niệm về động lực làm việc, theo giáo trình hành vi tổ chức: “Động lực của ngƣời lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ của bản thân ngƣời lao động” [9].Vroom (1964) cho rằng động lực có nguồn gốc từ tiếng Latin "movere", có nghĩa là "Di chuyển”.
Đây là một nội lực xuất phát từ nhu cầu cá nhân. Theo Maier & Lawler (1973): “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân”. Theo Kreitner (1995): “Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hƣớng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định”. Bedeian (1993) cho rằng: “Động lực là sự cố gắng để đạt đƣợc mục tiêu”.
Theo Higgins (1994): “Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chƣa đƣợc thoả mãn”. Theo Robbins (2001) “Động lực là một quá trình đáp ứng nhu cầu, có nghĩa là khi nhu cầu của một cá nhân đƣợc thỏa mãn hoặc đƣợc thúc đẩy bởi các yếu tố nhất định, cá nhân sẽ phát huy nỗ lực cao đối với việc đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức”. Schulze và Steyn (2003) khẳng định rằng khi quản lý và giám sát nhận thức đƣợc bản chất của nhu cầu và động cơ. Điều này sẽ giúp họ hiểu rõ hành vi của nhân viên tại nơi làm việc [9].
Nhƣ vậy, động lực là sự khao khát và tự nguyện của con ngƣời nhằm hƣớng tới việc đạt mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức thông qua sự nỗ lực của mỗi cá 10 nhân và tập thể. Một số quan điểm về động lực đƣợc các nhà quản lý thống nhất: - Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trƣờng làm việc. Không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào. - Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân.
Điều đó có nghĩa là không có ngƣời có động lực và ngƣời không có động lực. - Trong trƣờng hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. - Ngƣời lao động nếu không có động lực vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, ngƣời lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ mất khả năng thực hiện công việc và có xu hƣớng rời xa tổ chức.
Động cơ Động cơ làm việc cũng đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau: PGS. Lê Thế Giới cho rằng “Động cơ ám chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con ngƣời có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định”.Schiffman và Leslie Lazar Kanuk: “Động cơ là động lực bên trong mỗi cá nhân thúc đẩy họ hành động. Động lực này đƣợc sinh ra bởi trạng thái căng thẳng do nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn". Philip Kotler cho rằng: “Động cơ là nhu cầu đã trở nên bức thiết buộc con ngƣời phải hành động để thỏa mãn nó.
Khi nhu cầu đƣợc thoả mãn thì sẽ giảm bớt trạng thái căng thẳng, và khi không còn trạng thái căng thẳng này nữa thì động cơ sẽ tạm biến mất.” Phân biệt động cơ và động lực lao động Động lực lao động và động cơ lao động đều xuất phát từ bên trong bản thân ngƣời lao động và chịu sự tác động mang tính chất quyết định từ phía bản thân ngƣời lao động. Ngoài ra, động cơ và động lực lao động mang tính trừu tƣợng, đều là những cái không nhìn thấy đƣợc mà chỉ thấy đƣợc thông qua quan sát hành vi của ngƣời lao động rồi phỏng đoán. 11 Tuy nhiên, giữa động cơ và động lực làm việc cũng có một số điểm khác nhau nhƣ sau: 12 - Động cơ lao động chịu sự tác động lớn từ phía bản thân ngƣời lao động, gia đình và môi trƣờng xã hội xung quanh. Còn động lực lao động chịu sự tác động lớn từ bản thân ngƣời lao động và môi trƣờng tổ chức nơi ngƣời lao động làm việc.
- Động cơ lao động nói tới sự phong phú đa dạng, cùng một lúc có thể tồn tại nhiều động cơ. Trong khi đó động lực lao động nói tới sự biến đổi về mức độ: cao hay thấp, có hay không. - Động cơ lao động trả lời cho câu hỏi: “Vì sao ngƣời lao động làm việc” còn động lực lao động trả lời cho câu hỏi: “ Vì đâu mà ngƣời lao động làm việc cho tổ chức có hiệu quả đến vậy”. Tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc là sử dụng các biện pháp nhất định để kích thích ngƣời lao động làm việc một các tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả công việc tốt nhất.
Tạo động lực cũng chính là tạo ra sự hấp dẫn của công việc, kết quả thực hiện công việc, của tiền lƣơng, tiền thƣởng,. để hƣớng dẫn hành vi của con ngƣời lao động theo một quỹ đạo nhất định. Hay nói cách khác: “Tạo động lực là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc” [15]. Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực lao động là khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy đƣợc những tiềm năng của ngƣời lao động trong tổ chức.
Khi ngƣời lao động có động lực lao động thì họ sẽ làm việc nhiệt tình hăng say, sử dụng hết khả năng của mình, nhờ đó mà những mục tiêu của tổ chức sẽ đƣợc thực hiện với hiệu quả cao. Vì có động lực lao động, trong quá trình làm việc, ngƣời lao động có thể phát huy hết khả năng tiềm ẩn, nâng cao những khả năng hiện có của mình, đó chính là quá trình tự hoàn thiện trong công việc. Mục đích thứ hai của tạo động lực là tạo sự gắn bó, thu hút những ngƣời lao động giỏi về tổ chức. Bởi vì tạo động lực cho ngƣời lao động chính là làm cho ngƣời lao động đƣợc thoả mãn khi làm việc cho tổ chức, khiến cho họ gắn bó và trung thành với tổ chức.
Sự gắn bó nhiệt tình của họ cùng với những biện pháp tạo động 13 lực tốt sẽ làm tăng sức cuốn hút ngƣời giỏi đến với tổ chức, và điều đó càng góp phần tăng khả năng thành công của tổ chức. Việc tạo động lực nhƣ thế nào và bằng cách nào là hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện, chính sách, cách nhìn nhận vấn đề của tằng tổ chức. Do vậy, để có thể đƣa ra đƣợc một kế hoạch cho công tác tạo động lực ở một tổ chức, vào một giai đoạn hay một thời điểm nhất định thì phải dựa trên cơ sở của sự tìm hiểu, phân tích kĩ về bối cảnh chung, điều kiện làm việc, tính chất cũng nhƣ đặc thù công việc thực tế của chính tổ chức đó. Mối quan hệ giữa nhu cầu và động lực Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con ngƣời cảm thấy thiếu tốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn đƣợc đáp ứng nó.
Nhu cầu gắn liền với sự phát triển của con ngƣời, cộng đồng tập thể và xã hội. Nhu cầu chỉ xuất hiện khi con ngƣời rơi vào trạng thái mất cân bằng nào đó. Nhƣng con ngƣời lại luôn mong muốn vƣơn tới một trạng thái cân bằng, hoàn thiện bởi vậy họ ngay lập tức sẽ tìm cách hoạt động để thiết lập trạng thái cân bằng tồn tại. Qúa trình đó thực chất là quá trình hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu.
Hệ thống nhu cầu của con ngƣời rất phong phú đa dạng, thƣờng xuyên tăng lên về cả số lƣợng và chất lƣợng. Khi một nhu cầu này đƣợc thỏa mãn lập tức xuất hiện các nhu cầu khác cao hơn. Nếu xét khả năng thỏa mãn nhu cầu có thể chia hệ thống chu cầu làm 3 loại: Nhu cầu bậc thấp: còn gọi là nhu cầu sinh lý có thể là hệ thống nhằm duy trì sự tồn tại của mỗi con ngƣời nhƣ: ăn, mặc, ở, đi lại, bảo vệ sức khỏe…đây là nhu cầu quan trọng nhất nhƣng cũng dễ đƣợc thỏa mãn. Nhu cầu bậc thứ hai: còn gọi là nhu cầu vận động.
Vận động là phƣơng thức biểu hiện sự tồn tại và phát triển của con ngƣời. Vận động bao gồm có vận động trong sản xuất, vận động vui chơi giải trí, vận động di chuyển từ nơi này sang nơi khác, vận động tự bộc lộ mình. Nhu cầu bậc cao – nhu cầu sáng tạo: là loại nhu cầu đƣợc phát huy tối đa khả năng trong các hoạt động của con ngƣời. Trong ba loại nhu cầu trên, hai nhu cầu sau 14 đó khó thỏa mãn hơn, song nếu biết định hƣớng thì có thể tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy ngƣời lao động.
Đối với những ngƣời lao động khác nhau, việc thực hiện nhu cầu theo những cách thức, phƣơng thức khác nhau. Bản chất của tạo động lực là tạo ra nhu cầu cho ngƣời lao động sau đó từng bƣớc tạo điều kiện để họ thỏa mãn chúng một cách hợp lý. Mức độ thoả mãn càng cao thì càng có tác dụng tạo động lực. Do vậy, để đạt đƣợc mục tiêu của mình đòi hỏi các nhà quản lý thƣờng xuyên phải coi trọng, nhanh nhạy, uyển chuyển trong việc đáp ứng nhu cầu chính đáng của ngƣời lao động [11].
Mối quan hệ giữa lợi ích và động lực Lợi ích là kết quả mà con ngƣời có thể nhận đƣợc thông qua các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể, xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân.