chương 1 Luật các tổ chức tín dụng). Theo đạo luật ngân hàng của Cộng Hòa Pháp năm 1941 đã cho biết: “NHTM là những cơ sở mà nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” (Trần Huy Hoàng, 2011). Còn luật pháp Ấn Độ lại định nghĩa Ngân hàng: “Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư.” Luan van 6 Như vậy thông qua một số khái niệm về Ngân hàng thương mại, ta có thể hiểu Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh tín dụng với mục đích thu lợi nhuận, và nó có những đặc trưng như sau: - Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép nhận ký thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả. - Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác.
Căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động, ở nước ta các loại hình Ngân hàng thương mại được phép hoạt động theo luật tổ chức tín dụng bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác. Các dịch vụ ngân hàng thương mại Hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Tính đa dạng, phức tạp, vô hình của các loại hình dịch vụ làm cho việc thống nhất khái niệm dịch vụ trở nên khó khăn. Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới mỗi quốc gia đều có những cách hiểu về dịch vụ khác nhau, chính vì vậy trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng không đưa ra khái niệm về dịch vụ mà thay vào đó là sự liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn gồm 155 phân ngành.
Còn trong từ điển bách khoa Việt Nam giải thích: dịch vụ là các hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Theo định nghĩa của Tổ chức thương mại thế giới (WTO): Dịch vụ tài chính là bất cứ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành của dịch vụ tài chính.
Trên thế giới, dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, tức dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ hoạt động tín dụng, tiền tệ, ngoại hối, thanh toán … của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp và công chúng. Luan van 7 Ở Việt Nam, vẫn chưa có khái niệm chính thức để phân biệt rõ ràng thế nào là dịch vụ ngân hàng. Một số ý kiến cho rằng mọi hoạt động, nghiệp vụ của NHTM (tiền tệ, tín dụng, ngoại hối…) đều được coi là hoạt động dịch vụ. Quan điểm này được hình thành khi hiểu dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng, tức là mọi hoạt động tín dụng, tiền tệ, ngoại hối, thanh toán, … của ngân hàng đối với cá nhân và doanh nghiệp.
Bên cạnh đó cũng tồn tại quan điểm cho rằng dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi hoạt động tín dụng (như cho hay và huy động tiền gửi), tức hoạt động dịch vụ là những hoạt động phi tín dụng có sinh lời cho ngân hàng. Xét trên quan điểm này cạnh tranh mảng dịch vụ của các ngân hàng sẽ không xét đến các hoạt động truyền thống mà bất cứ NHTM nào cũng làm được như: cho vay, nhận tiền gửi. Khi ấy khi nói đến dịch vụ sẽ chỉ đề cập đến các sản phẩm dịch vụ thuần túy như dịch vụ thanh toán hóa đơn, dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng trực tuyến… 1. Đặc điểm, vai trò của các dịch vụ ngân hàng thương mại Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng thương mại Tương tự các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng bao gồm các đặc trưng sau: - Tính vô hình: Đây là yếu tố cơ bản phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân hàng và sản phẩm các ngành sản xuất khác.
Tương tự các ngành dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng cũng không mang hình thái, vật chất cụ thể. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu thông qua việc tiếp nhận và sử dụng dịch vụ ngân hàng. Yếu tố đặc biệt khác là khách hàng chỉ có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng chúng. Dịch vụ ngân hàng không có sản phẩm dở dang, không lưu trữ được.
Đây cũng là yếu tố khác với hàng hóa vật chất thông thường. Luan van 8 - Tính đồng thời Đặc điểm này của dịch vụ ngân hàng là do việc cung cấp và tiêu dùng dịch vụ luôn xảy ra đồng thời, không tách rời nhau. Dịch vụ ngân hàng chỉ được cung cấp khi nhu cầu sử dụng của khách hàng đáp ứng một số điều kiện nhất định của nhà cung cấp là ngân hàng. Điều này sẽ tác động tới việc xác định giá cả dịch vụ nhằm thỏa mãn lợi ích của cả hai bên.
Các ngân hàng càng tập trung nghiên cứu để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng thì sẽ càng thu hẹp được khoảng cách giữa việc cung cấp và tiêu dùng dịch vụ của ngân hàng. Điều này sẽ giúp ngân hàng ngày càng thu hút được nhiều khách hàng hơn, do đó thu nhập của ngân hàng ngày càng tăng lên. - Tính không ổn định và khó xác định khối lượng Do bản chất là một loại hình dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng sẽ chịu nhiều tác động của môi trường kinh doanh. Trong bối cảnh nền kinh tế không ngừng phát triển theo xu hướng hội nhập thì sự biến động của các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh càng mạnh và khó lường trước.
Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ ngân hàng cũng chịu tác động của nhiều yếu tố, cả yếu tố khách quan như thói quen, tập quán, trình độ thụ hưởng dịch vụ của khách hàng …đến các yếu tố chủ quan như vị thế, uy tín của ngân hàng, chính sách marketing, trình độ của cán bộ …Do vậy, có thể nói dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ khó xác định được khối lượng chính xác và không ổn định. Vai trò của dịch vụ ngân hàng thương mại Dịch vụ ngân hàng thương mại là loại hình dịch vụ chất lượng cao, đòi hỏi một trình độ hiểu biết nhất định không chỉ của nhà cung cấp dịch vụ mà còn của cả khách hàng. Phát triển dịch vụ ngân hàng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và với ngân hàng cũng như khách hàng nói riêng. Vai trò của dịch vụ ngân hàng được thể hiện cụ thể như sau: Đối với nền kinh tế Do hàm lượng chất xám kết tinh trong dịch vụ ngân hàng cao, dịch vụ ngân hàng đỏi hỏi sự am hiểu nhất định của cả khách hàng sử dụng và nhà cung cấp dịch Luan van 9 vụ.
Dịch vụ ngân hàng luôn có vai trò quan trọng không thể thiếu đối với nền kinh tế quốc dân, là động lực để thúc đẩy nền kinh tế theo hướng nền kinh tế tri thức, góp phần tăng cường sự luân chuyển vốn trong nền kinh tế và sự ổn định của cả hệ thống tài chính. Dịch vụ ngân hàng là loại dịch vụ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Các dịch vụ ngân hàng được cung ứng có tác động lớn tới tổng thể nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, từ công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu. Thông qua dịch vụ ngân hàng, nguồn vốn đầu tư được các NHTM đưa tới nơi sử dụng hiệu quả nhất, hỗ trợ các cá nhân cũng như các doanh nghiệp trong hoạt động tiêu dùng và sản xuất kinh doanh.
Từ đó, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện phát triển nhiều ngành sản xuất khác nhau trong nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế. Dịch vụ ngân hàng ngày càng được ứng dụng nhiều thành tựu trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Các dịch vụ đang phát triển mạnh như dịch vụ thẻ, dịch vụ Internet banking, dịch vụ SMS banking … có các trang thiết bị hiện đại về hệ thống mạng, máy tính, điện thoại, … đòi hỏi khách hàng và các nhà cung cấp cần phải có một trình độ hiểu biết nhất định để có thể sử dụng và vận hành. Mặt khác, dịch vụ ngân hàng tạo ra giá trị gia tăng cao, đây chính là một trong những đặc điểm của nền kinh tế tri thức.
Mặt khác, phát triển dịch vụ ngân hàng ở một góc độ nào đó còn được coi là góp phần đẩy mạnh quá trình minh bạch hóa tài chính của nền kinh tế, tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội, nâng cao tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó đóng góp tích cực vào việc ngăn chặn các tệ nạn kinh tế xã hội như: tham nhũng, rửa tiền, trốn thuế,…, tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc lành mạnh hóa nền kinh tế, điều hành chính sách tiền tệ, thúc đẩy sự hội nhập của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng hơn. Ngày nay, xu hướng tất yếu là hội nhập kinh tế quốc tế. Trong xu hướng đó, từng quốc gia không ngừng chủ động hội nhập vào nền kinh tế chung của khu vực và thế giới, khai thác nguồn lực của mình, … Ngân hàng được coi là một định chế tài Luan van 10 chính với vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc gia và đóng góp vào sự phát triển kinh tế thế giới. Đối với ngân hàng - Tiết kiệm chi phí và thời gian Ngân hàng có chức năng là trung gian thanh toán.
Hoạt động dịch vụ của ngân hàng hỗ trợ khách hàng tiết kiệm được thời gian và chi phí trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, làm tăng vòng quay vốn, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Dịch vụ ngân hàng là một loại hình dịch vụ chất lượng cao, được đầu tư, hỗ trợ bởi công nghệ hiện đại, do đó sẽ giúp cho các giao dịch của khách hàng được xử lý một cách nhanh chóng và chính xác. Khách hàng sẽ không phải mất thời gian chờ đợi, đi lại và được tiếp cận với bất cứ giao dịch nào của ngân hàng vào bất cứ thời điểm nào hoặc bất cứ nơi nào họ muốn.