CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài Imeson và Sim (2010) định nghĩa NHX là ngân hàng bền vững bởi một ngân hàng để phát triển bền vững thì các quyết định đầu tư cần nhìn vào bức tranh lớn và hành động một cách có lợi cho người tiêu dùng, kinh tế, xã hội và môi trường. Khi đó, có một mối quan hệ mật thiết giữa ngân hàng với các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường.
Ngân hàng chỉ có thể phát triển bền vững nếu đặt các lợi ích của ngân hàng gắn liền với các lợi ích của xã hội, môi trường. Maja Drobnjaković (2013) cho rằng các “ngân hàng xanh” có hoạt động hướng tới các mục tiêu liên quan tới bảo vệ môi trường. SOGESID (2012) cho rằng Ngân hàng xanh là ngân hàng hoạt động như một ngân hàng truyền thống và cung cấp các dịch vụ vượt trội cho nhà đầu tư và khách hàng, đồng thời thực thi các chương trình giúp ích cho cộng đồng và môi trường. Barner và Han (2013), Romano và các cộng sự (2017).
đã nghiên cứu về các nhân tố then chốt ảnh hưởng tới sự phát triển của NHX. Theo đó, các nhân tố phổ biến được nghiên cứu gồm cả các nhân tố vi mô như thứ hạng, quy mô, sở hữu của ngân hàng (Barner và Han, 2013), các nhân tố vĩ mô như môi trường, xã hội, kinh tế vĩ mô. Hoen (2014) cũng đưa ra những yếu tố khác có ảnh hưởng tới sự phát triển của NHX, gồm: chi phí giao dịch cao, kiến thức thông tin và khoảng cách về niềm tin, sự tham gia không đủ từ phía các tổ chức quốc tế, giá trị còn lại của tài sản hiện có cần phải được thay thế, chi phí cao để tích hợp các nguồn năng lượng sạch Nhóm 10 7|73 Tiểu luận Lý thuyết tài chính vào hệ thống, rủi ro về chính trị và quy định, quyền sở hữu trí tuệ không rõ ràng, các công cụ tài chính trong nước không đầy đủ. Ahmad và các cộng sự (2013) đã phân tích các nhân tố thúc đẩy trong việc áp dụng ngân hàng xanh của các ngân hàng thương mại Bangladesh.
Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập thông qua phiếu điều tra khảo sát với đối tượng là nhân viên các chi nhánh ngân hàng và quản lý cấp trên tại thành phố Dhaka. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có 05 nhân tố thúc đẩy việc áp dụng ngân hàng xanh tại các ngân hàng thương mại Bangladesh gồm có: (i) áp lực từ các bên liên quan; (ii) lợi nhuận tiềm năng; (iii) quan tâm tới môi trường; (iv) tối thiểu hóa rủi ro và (v) cải thiện hình ảnh. Nghiên cứu xác định rằng hầu hết các ngân hàng thương mại ở Dhaka áp dụng các hoạt động ngân hàng xanh để xây dựng hình ảnh thương hiệu của họ trên thị trường. Các tác giả cũng kết luận rằng các ngân hàng thương mại ở Bangladesh đang thực hiện chính sách ngân hàng xanh để trở thành doanh nghiệp có trách nhiệm hơn với người dân.
Dựa trên bộ dữ liệu thứ cấp của các ngân hàng, nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ có PCB và FCB đã áp dụng hướng dẫn ngân hàng xanh và tài trợ cho một số dự án dựa trên ngân hàng xanh, trong khi đó SCB và SDBs chưa triển khai. Nguyên nhân của việc chưa triển khai hệ thống ngân hàng xanh là do giới hạn nhận thức của các lãnh đạo ngân hàng về cơ hội và lợi ích của việc phát triển ngân hàng xanh. Do đó, Ullah (2013) đề xuất cần nâng cao nhận thức của các lãnh đạo ngân hàng Bangladesh đối với vấn đề này. Nhóm 10 8|73 Tiểu luận Lý thuyết tài chính Sharma và các cộng sự (2014) đã đánh giá mức độ nhận thức của nhân viên ngân hàng và khách hàng về khái niệm ngân hàng xanh trong các ngân hàng khu vực nhà nước và tư nhân.
Nghiên cứu dựa trên dữ liệu sơ cấp trong đó những người được hỏi có nền tảng giáo dục tốt. Tất cả các ngân hàng được xem xét trong nghiên cứu đều là những ngân hàng được xếp hạng cao nhất nên những ngân hàng này được chọn từ khu vực ngân hàng công và tư nhân. Kết quả của nghiên cứu cho thấy trong tổng số người được hỏi, 77% đang sử dụng các sản phẩm ngân hàng xanh nhưng không biết về thuật ngữ của ngân hàng xanh và 23% còn lại khá hiểu biết về các dịch vụ ngân hàng xanh do ngân hàng của họ cung cấp. Masukujjaman và các cộng sự (2015) phân tích nhận thức của các chủ ngân hàng về ngân hàng xanh tại 48 ngân hàng Hồi giáo ở Dhaka, Bangladesh.
Nghiên cứu đã chỉ ra lợi ích ngân hàng xanh là bảo vệ môi trường và giảm lãng phí tài nguyên. Chuyển sang ngân hàng xanh giúp làm giảm chi phí văn phòng phẩm và tăng lợi nhuận hoạt động. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn trong việc áp dụng ngân hàng xanh đó là mức chi phí áp dụng cao và cản trở quyền riêng tư của khách hàng. Mehedi và các cộng sự (2017) đã xác định quan điểm của các chủ ngân hàng liên quan đến các chỉ số áp dụng ngân hàng xanh trong các ngân hàng thương mại của Bangladesh.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu nhận thức của các chủ ngân hàng cấp trung đối với việc áp dụng khái niệm ngân hàng xanh. Dữ liệu cho nghiên cứu đã được thu thập thông qua phương pháp bảng câu hỏi bán cấu trúc và chọn ra sáu ngân hàng thương mại theo lịch trình ở Bangladesh. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng ngân hàng xanh, đó là: các đơn vị chính phủ, chính sách kiểm soát ô nhiễm môi trường, áp lực của các nhóm xã hội và áp lực từ các tổ chức quốc tế. Nghiên cứu cũng đề cập đến sức mạnh ảnh Nhóm 10 9|73 Tiểu luận Lý thuyết tài chính hưởng nhiều nhất, tức là áp lực tổ chức, chính sách môi trường và khuôn khổ quy định thể chế.
Tổng quan các nghiên cứu ở trong nước Đề tài cấp nhà nước “Phát triển hệ thống tài chính xanh nhằm thúc đẩy kinh tế xanh ở Việt Nam” của PGS.TS Trần Thị Thanh Tú đã tập trung vào việc xây dựng mô hình và lượng hóa tác động của tài chính xanh đến ngành kinh tế ở Việt Nam, xác định các ngành có tác động tích cực và tiêu cực đến phát triển kinh tế xanh; từ đó lượng hóa tác động của hệ thống tài chính đến tái cơ cấu đầu tư vào các ngành kinh tế xanh hơn, nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam. Đề tài cũng chỉ ra các kịch bản đầu tư xanh để đạt được mục tiêu tăng trưởng xanh trong giai đoạn 2020-2030; đồng thời, đề xuất lộ trình phát triển hệ thống tài chính xanh ở Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xanh đến năm 2050. Nguyễn Minh Loan (2019), Trần Thị Thanh Tú và Trần Thị Hoàng Yến (2016). Nguyễn Minh Loan (2019) chỉ mới đưa ra các nhận xét về thực trạng hoạt động của ngân hàng theo 3 khía cạnh: Phát triển các sản phẩm, dịch vụ xanh; Phát triển tín dụng xanh; Giảm thải khí carbon trong hoạt động nội bộ ngân hàng.
Bài báo chưa đưa ra được kết luận về cấp độ phát triển của NHX tại Việt Nam. Trần Thị Thanh Tú và Nguyễn Thị Minh Huệ (2016), để phát triển và lan tỏa ngân hàng xanh trong sự phát triển và tăng trưởng xanh của nền kinh tế Việt Nam, một nghiên cứu tổng thể và có tầm chiến lược trong tái cấu trúc ngành ngân hàng, tái cơ cấu nền kinh tế cần được thực hiện. Chính vì vậy, dựa vào những kinh nghiệm đã có từ các quốc gia đã thành công về ngân hàng xanh, các tác giả đã đưa ra một số gợi ý về các hướng hành động nhằm phát triển ngân hàng xanh của Việt Nam: (i) Hỗ trợ các dự án đảm bảo môi trường hoặc giúp ích cộng đồng bằng cách ngân hàng xanh cung cấp các khoản vay cho các dự án tiết kiệm năng lượng, (ii) Nhóm 10 10 | 7 3 Tiểu luận Lý thuyết tài chính Tạo ra các tác động liên ngành, (iii) Hợp tác quốc tế trong phát triển ngân hàng xanh, (iv) Phát triển ngân hàng trực tuyến và các tài khoản thanh toán xanh. Các khuyến nghị chủ yếu mang tính chất định hướng và thường trên cơ sở dựa vào kinh nghiệm của các quốc gia khác.
Nguyễn Thị Minh Huệ và các cộng sự (2017) đã đánh giá thực trạng hoạt động tài chính xanh của doanh nghiệp Việt Nam dựa trên khả năng tiếp cận vốn tín dụng xanh của doanh nghiệp và sự sẵn sàng của doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư xanh. Kết quả phân tích thu được từ điều tra khảo sát cho thấy: (i) các doanh nghiệp đều đánh giá tác động tích cực của đầu tư xanh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; (ii) các doanh nghiệp Việt Nam sẵn sàng thực hiện đầu tư xanh vào các dự án xanh, tác động tích cực đến môi trường; (iii) các doanh nghiệp gặp khó khăn khi tiếp cận vốn tín dụng. Nguyễn Thị Lệ Huyền (2019) đã đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng ngân hàng xanh của các NHTM Việt Nam. Phương pháp phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của 05 nhóm nhân tố tới việc thực hiện chiến lược ngân hàng xanh của các NHTM Việt Nam, bao gồm: (i) Áp lực từ các bên có liên quan; (ii) lợi ích tiềm năng; (iii) sự quan tâm đến môi trường; (iv) giảm thiểu rủi ro và (v) nâng cao thương hiệu.
Những lý thuyết có tính kế thừa và khoảng trống trong nghiên cứu Trong các nghiên cứu trước đây, các nhân tố tác động tới phát triển NHX được đo lường hoặc thể hiện bằng nhiều phương pháp khác. Ví dụ như nhân tố môi trường có thể được đo lường bởi một trong các phương pháp: Lượng phát thải khí nhà kính (CO2) từ mức tiêu thụ năng lượng; Cường độ năng lượng sử dụng trên đầu người; Lượng năng lượng cần thiết cho sản xuất một đơn vị GDP. Nhóm 10 11 | 7 3 Tiểu luận Lý thuyết tài chính Do đó, các kết quả nghiên cứu về tác động của các nhân tố tới phát triển NHX trước đây chỉ mang tính chất tham khảo, cần đánh giá lại cụ thể đối với mỗi quốc gia riêng biệt.