CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KẾ TOÁN NGÂN HÀNG 1.1 Tổng quan về kế toán Ngân hàng 1.1 Kế toán Ngân hàng - hệ thống thông tin 1.1 Đối tượng phục vụ của kế toán ngân hàng Kế toán ngân hàng là khoa học và cũng là nghệ thuật phân loại, tổng hợp và giải thích các nghiệp vụ tác động đến tài chính của các ngân hàng bằng thước đo tiền tệ, nhằm cung cấp về tình hình và kết quả hoạt động của ngân hàng, làm cơ sở cho quyết định kinh tế liên quan đến mục tiêu quản lý kinh doanh và đánh giá hoạt động của ngân hàng. Thông thường, kế toán được xác định theo đối tượng phục vụ, tức những chủ thể sử dụng các thông tin tài chính của ngân hàng. Với kế toán ngân hàng đối tượng phục vụ chủ yếu của nó là : - Các quản trị viên của ngân hàng: Các quản trị viên của ngân hàng có thể sử dụng thông tin tài chính do kế toán cung cấp nhằm mục tiêu chủ yếu là giúp cho việc hình thành các quyết định bên trong ngân hàng. Do đó những thông tin này mang tính chất nội bộ, vì vậy các báo cáo của kế toán có thể không cần phải tuân thủ hoàn toàn các nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận.
- Các nhà đầu tư, cơ quan tài chính, cơ quan luật pháp, thị trường chứng khoán và một số chủ thể khác bên ngoài ngân hàng. Các đối tượng này đòi hỏi những thông tin mà họ được cung cấp phải thể hiện được các mục tiêu tổng quát, đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy. Do đó các báo cáo tài chính mà kế toán ngân hàng cung cấp cho các đối tượng trên cần phải tuân theo các chuẩn mực nhất định.1 : Vị trí của kế toán ngân hàng Quyết định Hoạt động Quyết định mục tiêu kinh doanh mục tiêu Nghiệp vụ Kế toán Thông tin - Nhà quản trị - Ban giám đốc Kiểm toán - Hội đồng quản trị Thông tin đã được xác nhận Người có lợi ích trực Người có lợi ích gián tiếp tiếp - Người gửi tiền - Cơ quan tổ chức Như vậy, kế toán ngân hàng giữ vị trí then chốt, ảnh hưởng đến quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.2 Báo cáo tài chính của ngân hàng Báo cáo tài chính của các ngân hàng được thiết lập dựa trên các chuẩn mực kế toán của Việt Nam (Chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thêm báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán nước ngoài). Tình hình tài chính của các ngân hàng ở mọi loại hình sở hữu đều thể hiện qua tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm theo phương trình kế toán (Accouting equation) : Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu.
(Assets = Liabihty + owner's equity) 123doc 3 - Tài sản: Là những tài sản thuộc quyền sở hữu của ngân hàng có giá trị tính được như tiền mặt, các giấy tờ có giá, khoản cho vay, đầu tư, nhà đất, thiết bị, các khoản phải thu … - Nợ phải trả: Nợ phát sinh do ngân hàng huy động vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế, vay của các ngân hàng khác, thuế phải trả, các khoản phải trả khác… - Vốn chủ sở hữu: gồm vốn đầu tư của chủ sở hữu và kết quả kinh doanh của ngân hàng. Thông tin tài chính của ngân hàng được tổng hợp trên các báo cáo chủ yếu sau : * Bảng cân đối kế toán (Cân đối tài sản - Balance sheets)– phụ lục số 1 Bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình tài chính của ngân hàng tại thời điểm cuối kỳ kế toán (tháng, quý, sáu tháng, năm). Bảng cân đối kế toán của một ngân hàng được thiết lập đảm bảo yêu cầu cân bằng của phương trình kế toán – tổng tài sản nợ = tổng tài sản có, tập hợp các tài sản và nguồn vốn theo tính chất, liệt kê theo thứ tự phản ánh tính thanh khoản tương đối của các tài khoản này. * Báo cáo thu nhập, chi phí (báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) Bảng báo cáo thu nhập, chi phí phản kết quả kinh doanh của ngân hàng trong kỳ kế toán.
Các khoản thu nhập - chi phí không được bù trừ cho nhau trừ những khoản liên quan tới bù trừ rủi ro và các tài sản nguồn đã bù trừ trong Bảng cân đối kế toán. Kết quả kinh doanh của ngân hàng trong kỳ được tính như sau: Lợi tức thuần (Lỗ thuần) = Thu nhập - Chi phí 123doc 4 Bảng báo cáo thu nhập – chi phí cho biết tổng quát về thu nhập và chi phí của ngân hàng sau một kỳ kinh doanh mà chưa phản ảnh kết quả kinh doanh một cách cụ thể, theo từng nhóm nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng. Do vậy để phục vụ cho ban lãnh đạo ngân hàng trong công tác điều hành, báo cáo tình hình thu nhập chi phí nên được thiết lập theo theo mẫu dưới đây. BÁO CÁO THU NHẬP – CHI PHÍ 31/12/20X1 – 20X0 Chỉ tiêu 20X1 20X0 1.
Thu nhập lãi - Lãi và phí cho vay - Thu nhập cho thuê tài chính - Lãi đầu tư 2. Chi phí lãi - Lãi tiền gởi - Chi phí khác 3. Thu nhập lãi ròng (1-2) 4. Dự phòng tổn thất cho vay đầu tư 5.
Thu nhập lãi sau khi trừ dự phòng (3-4) 6. Thu nhập khác 7. Chi phí khác 8. Thu nhập trước thuế 9.
Thuế thu nhập 10. Thu nhập ròng (8-9) 1. Các nguyên tắc hạch toán kế toán ngân hàng 1. Môi trường kế toán và giới hạn kế toán Môi trường kế toán ngân hàng Môi trường kế toán ngân hàng phụ thuộc vào các quan điểm, chuẩn mực, phương thức kế toán được thừa nhận ghi trong pháp lệnh kế toán thống kê thống nhất ở Việt nam, phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội, đồng thời phù hợp với đặc điểm tổ chức kinh doanh đặc biệt của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.
123doc 5 Trong số các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến kế toán cần chú ý đến các chuẩn mực kế toán gồm : - Các chuẩn mực kế toán ghi trong pháp lệnh kế toán thống kê. - Các yêu cầu về hạch toán kế toán ngân hàng ban hành theo quyết định số 435/1998/QĐ-NHNN2 ngày 25/12/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Giới hạn của kế toán ngân hàng. ¾ Chủ thể kinh doanh Cơ cấu tổ chức chung của các ngân hàng ở Việt Nam là một ngân hàng bao gồm một trụ sở chính và nhiều chi nhánh đặt ở các địa điểm khác nhau.
Ví dụ: Ngân hàng Công thương Việt Nam có trụ sở chính đặt tại Hà Nội và các chi nhánh được đặt ở các tỉnh, thành phố trong cả nước. Các chi nhánh tiến hành hoạt đông kinh doanh theo sự ủy quyền của Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc của ngân hàng. Với cơ cấu tổ chức như vậy, kế toán ngân hàng tại các chi nhánh chỉ ghi chép và phản ánh hoạt động kinh doanh trong phạm vi được ủy quyền, còn kế toán ngân hàng tại trụ sở chính của mỗi ngân hàng sẽ tập hợp thông tin từ các chi nhánh để lập các báo cáo tài chính của ngân hàng với tư cách là một chủ thể kinh doanh độc lập. Đời sống của các chi nhánh ngân hàng kéo dài trong khoảng thời gian đủ để có thể thực hiện những hoạt động dự kiến và đảm bảo thực hiện những cam kết đã định.
Các hoạt động được theo dõi thông qua các tài khoản cho vay, tiền gửi có kỳ hạn, dự thu, dự chi tiền lãi, dự phòng nợ phải thu khó đòi, khấu hao. Tuy nhiên, như đã trình bày, các chi nhánh ngân hàng chỉ hạch toán một số nghiệp vụ nhất định chứ không phải là tất cả. Vì vậy một số nghiệp vụ chỉ theo dõi trên sổ sách tại trụ sở chính, ví dụ khoản dự phòng nợ phải thu 123doc 6 khó đòi - là tài khoản thông thường được theo dõi tại hội sở chính của ngân hàng. Khi các chi nhánh có phát sinh những khoản nợ quá hạn khó đòi, hội sở chính sẽ xem xét trích dự phòng nợ phải thu khó đòi để xóa nợ cho chi nhánh.
¾ Đơn vị tiền tệ ổn định : Tất cả các ngân hàng đều tổ chức công tác kế toán trên cơ sở đơn vị đo lường duy nhất là tiền tệ (VNĐ và các loại ngoại tệ mạnh) ¾ Sử dụng đồng tiền làm đơn vị đo lường hàm ý thừa nhận tiền là đơn vị đo lường có giá ổn định, chịu ít tác động của hiện tượng lạm phát hoặc giảm phát. ¾ Niên độ kế toán : Việc phân chia đời sống ngân hàng thành niên độ bao hàm ý nghĩa ngân hàng cần cung cấp thông tin về tình hình tài chính theo định kỳ. Định kỳ đó có thể trùng khớp với niên lịch, có thể không nhưng bao giờ cũng tôn trọng nguyên tắc: định kỳ đó bao trùm một năm hoạt động của ngân hàng. Ở Việt Nam, việc phân chia định kỳ thông tin cần báo cáo của ngân hàng là phù hợp với niên lịch, năm tài chính bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm.2 Nguyên tắc kế toán Các báo cáo tài chính của ngân hàng được thiết lập cần đáp ứng yêu cầu: thể hiện một cách trung thực nhất tình hình kinh tế, pháp lý và tài chính của ngân hàng, dựa trên cơ sở : - Tính hợp lệ: Phù hợp với những luật lệ quy định hiện hành hoặc với những nguyên tắc kế toán được thừa nhận.
- Tính trung thực: Các thông tin cung cấp được lập với ý đồ trung thực không gian lận. 123doc 7 - Tính khách quan: Thể hiện đầy đủ, khách quan tình hình hoạt động kinh doanh thực tế của ngân hàng. Để đảm bảo thông tin kế toán ngân hàng đáp ứng các tiêu chuẩn trên, thông tin kế toán cần được hình thành, đánh giá trong một giới hạn cụ thể, một phạm vi phản ánh cụ thể và kế toán ngân hàng phải tuân theo nguyên lý chung trong quá trình xử lý, ghi chép nghiệp vụ phát sinh cũng tuân theo các nguyên tắc kế toán chung: - Nguyên tắc nhất quán : nguyên tắc nhất quán trong kế toán ngân hàng được thể hiện trong việc tạo số hiệu tài khoản. Ví dụ qui định của Ngân hàng Công thương về tài khoản tiền gởi của : Tổ chức kinh tế : 10201.xxxxxxxxxx : tài khoản không kỳ hạn bằng VNĐ 10202.xxxxxxxxxx : tài khoản không kỳ hạn bằng USD Và của cá nhân : 10101.xxxxxxxxxx : tài khoản không kỳ hạn bằng VNĐ 10102.