LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Môi trường Trái Đất là nguồn tài sản tự nhiên độc nhất và vô giá của nhân loại mà con người cần phải chung tay giữ gìn và bảo tồn. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang không ngừng phát triển cùng với tỷ lệ dân số đang ngày một gia tăng đã vô tình tạo nên những tác động tiêu cực tới tài nguyên, môi trường, con người cần tích cực xem xét, hành động để giảm các tác động tiêu cực và hướng tới một sự phát triển bền vững. Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) đã định nghĩa phát triển bền vững là sự phát triển không can thiệp vào các hệ thống sinh thái, xã hội và sinh thái mà nó phụ thuộc (Báo cáo Brundtland, 1987).
Quá trình này cần có sự góp sức của tất cả các thành phần của nền kinh tế, các hoạt động từ chính phủ, tổ chức phi chính phủ đến các doanh nghiệp và khu vực tài chính đều mang ý nghĩa đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển bền vững này. Việt Nam đang phải đối mặt trực tiếp và chịu ảnh hưởng nặng nề từ những hậu quả của biến đổi khí hậuTheo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, để đạt được mục tiêu tăng trưởng xanh, Việt Nam sẽ cần khoản đầu tư dự kiến lên tới 30 tỷ USD (Trọng Triết, 2015). Điều này đặt ra một trở ngại nan giải trong bối cảnh khan hiếm của ngân sách nhà nước. Sự hạn chế và khó tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế khiến các nước đang phát triển như Việt Nam, gặp khó khăn trong việc đạt được tăng trưởng xanh bền vững.
Vậy nên, sự tham gia tích cực của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính là rất quan trọng trong việc thúc đẩy một nền kinh tế xanh. Các định chế này có quyền quyết định vốn đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ các ngành nghề góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững. Tiếp cận nguồn vốn vay cho các dự án đầu tư có lợi cho môi trường được coi là giải pháp tài chính hiệu quả. Các nhà lãnh đạo đã nhận ra vai trò của việc phát triển ngân hàng xanh trong tương lai của ngành ngân hàng từ sau cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế năm 2008, trái ngược với quan điểm trung lập với môi trường trước đây của ngành ngân hàng.
Các hoạt động kinh tế và chính trị xã hội thường phát triển đồng đều với lợi nhuận kinh tế của các TCTD và NHTM, đã thúc đẩy việc phát triển các mô hình 2 NHX thành công trên toàn cầu. Trong gần một thập kỷ, Việt Nam đã và đang triển khai thực hiện các Chương trình nghị sự 21 vì sự phát triển bền vững và thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Theo Quyết định số 622/QĐ- TTgngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh sự phát triển thành công NHX là một mắt xích quan trọng để đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) vào năm 2030. Ngân hàng xanh đã được nhấn mạnh tầm quan trọng bởi các nghiên cứu và các nhà lãnh đạo toàn cầu xem xét đây là yếu tố trọng tâm của xu hướng phát triển bền vững trên toàn thế giới.
Sự cần thiết của tăng trưởng tài chính bền vững đã được minh chứng trực quan trong giai đoạn thế giới phải đối mặt với đại dịch COVID-19. Không còn nghi ngờ gì nữa, hệ thống kinh tế và tài chính thế giới đã bị suy yếu rõ rệt, gây nên khó khăn nghiêm trọng nhất với hệ thống tài chính toàn cầu sau cuộc khủng hoảng kinh tế mới nhất. Việc phát triển hệ thống công nghệ trong ngân hàng là điều kiện thiết yếu nhằm giải quyết những vấn đề mà COVID-19 tạo ra khi bị giãn cách xã hội nhằm đảm bảo việc hoạt động ổn định. Đã đến thời điểm các tổ chức tài chính đẩy mạnh phối hợp với những tập đoàn công nghệ thông tin phát triển những hệ thống ngân hàng xanh như smart-banking, ngân hàng điện tử và cải tiến công nghệ nhằm thoả mãn yêu cầu của thị trường và cũng hạn chế ảnh hưởng của các nguy cơ từ đại dịch COVID-19.
Ngành ngân hàng đã được cách mạng hóa bởi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, với sự thúc đẩy đáng kể hướng tới chủ trương xanh hóa các hoạt động ngân hàng. Nhiều quốc gia đã áp dụng mô hình NHX với kết quả tích cực như các đế chế Ngân hàng tại Mỹ (BoA, Wells Fargo,…) hay Pháp (BNPP), Nhật (Mizuho),… Để có thể nắm bắt xu hướng toàn cầu này và điều chỉnh phù hợp với chiến lược phát triển của các NHTM, Việt Nam đã gặp phải những trở ngại trong quá trình triển khai và khi áp dụng các thông lệ ngân hàng xanh. Song, điều này có thể được khắc phục một phần bằng cách áp dụng chuyên môn quốc tế. Tại Việt Nam, nghiên cứu về NHX còn hạn chế so với nhiều nghiên cứu quốc tế.
Hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào các báo cáo và bài trình bày xem xét kinh nghiệm từ của các quốc gia khác. Do đó, vẫn còn nhiều khoảng trống trong 3 nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn về ngân hàng xanh ở Việt Nam, khiến đây là một lĩnh vực chín muồi để tiếp tục khám phá định lượng. Do đó, cần tiến hành các nghiên cứu trên cả phương diện lý thuyết và tính ứng dụng của “ngân hàng xanh”, thiết lập các mô hình lượng để đánh giá tác động đến sự phát triển của ngân hàng xanh tại Việt Nam. Điều này sẽ giúp Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, tổ chức tài chính và thậm chí cả các doanh nghiệp và cá nhân hiểu được tầm quan trọng NHX đối với sự phát triển ổn định và bền vững của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế nói chung, đòi hỏi phải nhận thức và tích cực xây dựng các phương án giải pháp cho các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ của NHX.
Với nền tảng này, có thể đưa ra các hoạch đinh chiến lược nhằm mục tiêu thúc đẩy việc mở rộng hệ thống ngân hàng xanh trong thời gian tới phù hợp với các thông lệ quốc tế và xu hướng chung của thế giới, từ đó đóng góp vào công cuộc bảo vệ môi trường Trái Đất trước sự biến đổi nhanh chóng của khí hậu và phát triển nền kinh tế bền vững. Từ thực tiễn diễn giải trên, tác giả quyết định sử dụng đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn. Tình hình nghiên cứu 2. Kết quả nghiên cứu về khái niệm Ngân hàng xanh và sự phát triển Ngân hàng xanh Các nghiên cứu về đề tài Ngân hàng xanh đã đạt được một số kết quả, cụ thể như sau: Thứ nhất là, khái niệm về “ngân hàng xanh” có thể đã được biết đến, nhưng để có cách hiểu đúng và toàn diện thì vẫn còn số ít nghiên cứu tổng hợp được trong thời đại công nghệ số thay đổi từng ngày như hiện nay.
Các nghiên cứu tiếp cận khái niệm này theo nhiều phương diện khác nhau, và các cách tiếp cận không đồng nhất mà thay đổi dựa theo đối tượng kinh tế nghiên cứu, theo các giai đoạn khác nhau hay theo mức độ phát triển của từng quốc gia riêng biệt. Nhìn chung, các khái niệm cơ bản về NHX được tiếp cận theo hai nhóm chính. Theo cách tiếp cận bao quát, các nghiên cứu đưa ra khái niệm “ngân hàng xanh” gắn với mục tiêu hoạt động của các ngân hàng. Theo cách tiếp cận này, 4 Imeson và Sim (2010) định nghĩa NHX là ngân hàng bền vững bởi một ngân hàng để phát triển bền vững thì các quyết định đầu tư cần nhìn vào bức tranh lớn và hành động một cách có lợi cho người tiêu dùng, kinh tế, xã hội và môi trường.
Khi đó, có một mối quan hệ mật thiết giữa ngân hàng với các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường. Ngân hàng chỉ có thể phát triển bền vững nếu đặt các lợi ích của ngân hàng gắn liền với các lợi ích của xã hội, môi trường. Tiếp cận ở góc độ hẹp hơn, một số nghiên cứu như Maja Drobnjaković (2013) cho rằng các “ngân hàng xanh” có hoạt động hướng tới các mục tiêu liên quan tới bảo vệ môi trường. SOGESID (2012) cho rằng Ngân hàng xanh là ngân hàng hoạt động như một ngân hàng truyền thống và cung cấp các dịch vụ vượt trội cho nhà đầu tư và khách hàng, đồng thời thực thi các chương trình giúp ích cho cộng đồng và môi trường.
Những ngân hàng xanh không phải là một doanh nghiệp hoạt động thuần túy vì trách nhiệm xã hội, cũng không hoàn toàn là doanh nghiệp thuần túy vì lợi nhuận; chúng là sự kết hợp mới đảm bảo sự hài hòa và bền vững về cả kinh tế - môi trường - xã hội. Việc Ngân hàng xanh thúc đẩy trách nhiệm xã hội bằng việc xem xét mức độ thân thiện với môi trường và các ảnh hưởng sau này đến môi trường của dự án trước khi cấp tín dụng. Vì vậy Ngân hàng xanh giúp chuyển đổi các mục tiêu của ngân hàng từ “lợi nhuận” sang “lợi nhuận đi kèm trách nhiệm” (Bihari, 2011). Lalon (2015), nhận định rằng một ngân hàng thông thường sẽ trở thành ngân hàng xanh khi định hướng các hoạt động cốt lõi cùng với sự cải thiện của môi trường.
Các chuyên gia ngân hàng đồng ý rằng ngân hàng xanh, còn được gọi là ngân hàng có đạo đức hoặc ngân hàng bền vững, kêu gọi các chiến lược thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hành thân thiện với môi trường. Những chiến lược như vậy liên quan đến đổi mới hoạt động, công nghệ và thay đổi hành vi của khách hàng. Khái niệm ngân hàng xanh bao gồm nhiều lĩnh vực, bao gồm phát triển bền vững, cho vay có đạo đức, bảo tồn và sử dụng năng lượng hiệu quả. Về cơ bản, một ngân hàng xanh ưu tiên các nguyên tắc bền vững và đạo đức trong hoạt động và thực tiễn cho vay của mình.
Theo cách tiếp cận cụ thể, các nghiên cứu đưa ra khái niệm “ngân hàng xanh” dựa trên cách tiếp cận của mô hình hoạt động kinh doanh của một tổ chức tài chính (Kaeufer, 2010; Ritu, 2014). Theo cách tiếp cận này, Kaeufer (2010) đưa ra 5 khái niệm “Ngân hàng xanh” là việc “xanh hóa” các hoạt động của ngân hàng, bao gồm cả hoạt động nội bộ và các hoạt động nghiệp vụ. Ritu (2014) cho rằng Ngân hàng xanh có nghĩa là thúc đẩy các hoạt động thân thiện với môi trường và giảm lượng khí thải carbon từ các hoạt động ngân hàng.