Chương 1 này chỉ ra lý do chọn đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam”. Từ mục tiêu tổng quát đưa ra 04 mục tiêu cụ thể và các mục tiêu sẽ được giải đáp thông qua 04 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Tiếp theo, tác giả trình bày về đối tượng và phạm vi của nghiên cứu đó là RRTD với dữ liệu nghiên cứu của 27 NHTM tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2012 – 2021. Sử dụng đồng thời hai phương pháp là nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính.
Cuối cùng, ở chương này trình bày bố cục 05 chương của bài khóa luận và sơ lược nội dung chính mỗi chương. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Chương này sẽ trình bày nội dung về một số khái niệm; ý nghĩa; lý luận chung về rủi ro tín dụng của hệ thống NHTM, tổng kết các mô hình nghiên cứu trước đây về những yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam để làm cở sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương sau. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2. Khái niệm tín dụng ngân hàng Trong nền kình tế ngày nay, khi nói đến tín dụng thì nó đã trở nên rất phổ biến, nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của tiền tệ và quan hệ trao đổi hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội.
Tín dụng là việc thể hiện mối quan hệ giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay, cụ thể đó là việc chuyển giao vốn trên cơ sở tín nhiệm và theo nguyên tắc hoàn trả. Còn ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ. Theo Bùi Diệu Anh (2020) cho rằng: Tín dụng ngân hàng (TDNH) là môt giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Các đặc trƣng của tín dụng ngân hàng Bùi Diệu Anh (2020) đã đƣa ra bốn đặc trƣng để phần nào hiểu rõ hơn về TDNH nhƣ sau: Thứ nhất, tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng đa dạng, có thể dƣới dạng tiền tệ, tài sản thực hoặc chữ ký.
Ngân hàng là một tổ chức đặc biệt, không chỉ có chức năng trung gian tín dụng mà còn có chức năng trung gian thanh toán cho nền kinh tế, nên giá trị tiền tệ mà TDNH thƣờng dùng là dƣới dạng bút tệ - đƣợc hiểu là tiền ghi sổ trên tài khoản nên cũng không nhất thiết phải là tiền mặt. Thứ hai, rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn. Mọi hoạt động, sự việc diễn ra luôn có tồn tại rủi ro, mà rủi ro trong 8 TDNH là tất yếu không thể loại trừ đƣợc. Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố: khả năng trả nợ và thiện trí trả nợ.
Thứ ba, sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng hàng nói riêng. Để đảm bảo hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi, trong nghiệp vụ tín dụng ngân hàng phải cân nhắc hai yếu tố căn bản sau: (i) xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý; (ii) chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và đƣợc nền kinh tế chấp nhận. Thứ tƣ, sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện. Các chứng từ đƣợc hình thành trong quan hệ tín dụng ngân hàng nhƣ hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, khế ƣớc nhận nợ.đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn.
Đây chính là những ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng của ngân hàng. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Trong thực tế đã có rất nhiều khái niệm về rủi ro TDNH, cụ thể nhƣ sau: Anthony Sauders (2007) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể đƣợc thực hiện cả về số lƣợng và thời hạn”.Koch (2006) thì “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Khoản 24 Điều 2 Thông tƣ 41/2016/TT-NHNN giải thích: “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài”.
Rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng có thể hiểu là: những biến cố không chắc chắn, phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng, mà 9 hậu quả của những biến cố này mang lại tổn thất về thu nhập, giá trị vốn hoặc tổn hại cho danh tiếng của ngân hàng ( Bùi Diệu Anh 2020) Tóm lại, từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Rủi ro tín dụng là khi khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ theo cam kết, gây ra tổn thất trong hoạt động của ngân hàng”. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là một phạm trù lớn rất đa dạng và phức tạp, nên có thể phân thành nhiều loại theo các đặc điểm khác nhau: Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng đƣợc chia thành hai loại: Một là, rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng, đây là loại rủi ro có tính kỹ thuật. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: (i) rủi ro lựa chọn (liên quan đến khâu thẩm định và phân tích khách hàng); (ii) rủi ro bảo đảm (xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo, hợp đồng vay); (iii) rủi ro nghiệp vụ (liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay). Hai là, rủi ro danh mục: Là loại rủi ro gắn liền với danh mục cho vay thiếu hiệu quả của NHTM.
Rủi ro danh mục bao gồm hai thành phần: (i) rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay; (ii) rủi ro tập trung, theo định nghĩa của Ủy ban Basel “rủi ro tập trung là bất kỳ rủi ro đơn lẻ hoặc nhóm rủi ro nào có khả năng tạo ra tổn thất đủ lớn có liên quan đến mức vốn của ngân hàng, tài sản có của ngân hàng hoặc tổng tổn thất của ngân hàng”. Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng đƣợc chia thành ba loại: Một là, rủi ro không hoàng trả nợ đúng hạn: Là khi khách hàng không thực hiện đúng theo quy ƣớc về thời gian hoàn trả nợ vay và tới hạn mà ngân hàng vẫn chƣa thu hồi đƣợc nợ. 10 Hai là, rủi ro mất khả năng chi trả: là rủi ro mà khách hàng không còn khả năng có thể trả đƣợc nợ, ngân hàng buộc phải thanh lý tài sản bảo đảm thế chấp của khách hàng.
Ba là, rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bên cạnh hoạt động cho vay, ngân hàng còn có các hoạt động khác mang tính chất tín dụng cụng có rủi ro không kém nhƣ: bảo lãnh, cam kết, tín dụng thuê mua,… 2. Các chỉ tiêu đo lƣờng rủi ro tín dụng Đo lƣờng RRTD là đo lƣờng xác suất xảy ra biến cố vỡ nợ (Probability of default – PD) và mức độ tổn thất (Loss given at default – LGD). Muốn dự đoán đƣợc rủi ro một cách chính xác nhất ngân hàng phải đo lƣờng đƣợc rủi ro. Chính vì tầm quan trọng này nên cần có các chỉ tiêu để đo lƣờng RRTD, cụ thể nhƣ sau: Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn: Là chỉ tiêu cơ bản phản ánh RRTD.
Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết mà ngƣời vay không có khả năng trả đƣợc nợ một phần hay toàn bộ khoản vay cho ngƣời cho vay. Tùy theo thời gian quá hạn, khoản nợ này sẽ đƣợc xác định là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, hoặc là nợ có khả năng mất vốn… Tỷ lệ nợ quá hạn này cho biết, cứ 100 đồng dƣ nợ thì có bao nhiêu đồng đã quá hạn trong tổng dƣ nợ của tín dụng ngân hàng. Trong các khoản nợ quá hạn, một số khoản nợ chuyển sang nợ khó đòi và khi đó sẽ làm RRTD càng tăng mạnh hơn. Đây cũng là tình trạng phổ biến tại các NHTM Việt Nam hiện nay.
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu 11 Nợ xấu: Là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà khó hoặc không thể thu hồi đƣợc. Theo Điều 6 Thông tƣ 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 của NHNN. Danh mục cho vay của NHTM đƣợc phân loại thành 5 nhóm, trong đó nợ xấu thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5. Tỷ lệ nợ xấu phản ánh chất lƣợng và mức độ rủi ro của hoạt động tín dụng mà ngân hàng có, cứ trong 100 đồng tổng dƣ nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu.
Do vậy nên đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình trạng RRTD của NHTM. Chỉ tiêu tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Theo Ashour (2011), dự phòng RRTD là các khoản chi phí trích trƣớc tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng nhằm bù đắp tổn thất đối với những khoản nợ không thu hồi đƣợc. Tỷ lệ dự phòng RRTD cho biết một đồng nợ quá hạn khó đòi của ngân hàng đƣợc bù đắp bằng bao nhiêu đồng dự phòng rủi ro. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy chất lƣợng các khoản nợ càng thấp và khả năng thu hồi đƣợc nợ càng giảm, điều này làm RRTD tăng cao; và ngƣợc lại.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2.