Đặt vấn đề CHƯƠNG 2: Cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt CHƯƠNG 3: Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và mô hình các nhân tố tác động đến việc chấp nhận và sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Vietcombank Bình Tây CHƯƠNG 4: Biện pháp hoàn thiện công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại Vietcombank Bình Tây SVTH: NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO Trang 3 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS NGUYỄN CHÍ ĐỨC CHƯƠNG 2 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 2.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm các phương tiện như thẻ thanh toán, séc, chuyển khoản, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu… là cơ chế cho phép tiền trong tài khoản tại ngân hàng này được chuyển sang tài khoản của người thụ hưởng cùng hoặc khác ngân hàng theo lệnh của chủ tài khoản nhằm thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ mà người thụ hưởng đã cung ứng cho chủ tài khoản.2 Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt Thứ nhất: Sự vận động của tiền tệ độc lập so với sự vận động của vật tư hàng hoá về cả thời gian và không gian.Đây là đặc điểm nổi bật nhất trong TTKDTM cần phải được nhận thức một cách đúng đắn. Ở đây khác với thanh toán bằng tiền mặt, TTKDTM không phải được tiến hành theo kiểu “giao hàng, nhận tiền” mà là việc giao hàng và thanh toán được thực hiện tại thời gian và địa điểm khác nhau.Sự tách rời giữa tiền và hàng là không tránh khỏi.Điều đó chỉ cho ta một phương án thanh toán – mà ở phương án đó phải chấp nhận sự tách rời đó, nhưng không để vì sự tách rời mà gây ra chậm trễ, gian lận trong thanh toán, nghĩa là phải hạn chế đến mức thấp nhất mọi rắc rối có thể xảy ra trong thanh toán. Thứ hai: Trong TTKDTM, tiền tệ chỉ xuất hiện dưới hình thức tiền tệ kế toán và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách kế toán.Đây là đặc điểm riêng và nổi bật trong TTKDTM.Với đặc điểm này, mỗi bên tham gia thanh toán nhất định phải mở tài khoản tại ngân hàng và hơn nữa phải có tiền trong tài khoản đó.Đó là điều kiện bắt buộc, nếu không việc thanh toán sẽ không thể tiến hành. Ngoài ra, do phải mở tài khoản tại ngân hàng, nên vấn đề kiểm soát của ngân hàng trong việc tổ chức thanh toán là hết sức cần thiết.Kiểm soát tính chất đúng đắn của nội dung thanh toán, kiểm soát tính hợp pháp của chứng từ….
Thứ ba: Trong TTKDTM, vai trò của ngân hàng là rất lớn, vai trò của người tổ chức và thực hiện các khoản thanh toán. Ngoài hai hoặc nhiều đơn vị tham gia trong thanh toán thì ngân hàng được xem như người thứ ba không thể thiếu được trong TTKDTM, bởi vì chỉ có ngân hàng- người quản lý tài khoản của các đơn vị mới được phép trích chuyển tài khoản của họ và coi như một loại nghiệp vụ đặc biệt của ngân hàng.Với nghiệp vụ này, ngân hàng trở thành một “phòng thanh toán” cho xã hội – trong trường hợp đó có thể nói toàn bộ quá trình thanh toán được thực hiện thuận lợi trôi chảy hay không được quyết định bởi SVTH: NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO Trang 4 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS NGUYỄN CHÍ ĐỨC người thực hiện, mà trong đó ngân hàng là người đóng vai trò “kết thúc” quá trình thanh toán.3 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế Qua nghiên cứu sự tiến triển của hệ thống thanh toán chúng ta có thể thấy sự cần thiết khách quan và rất quan trọng của thanh toán không dùng tiền mặt đối với nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhất là trong giai đoạn phát triển có nhiều mối quan hệ đa chiều rất phức tạp đó là: − Tổ chức tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ thanh toán và tốc độ chu chuyển vốn của nền kinh tế − Thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển − Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông kìm hãm và đầy lùi lạm phát − Thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm giảm thiểu tới mức tối đa các chi phí giao dịch trong xã hội − Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho Ngân hàng tập trung tăng cường nguồn vốn để đầu tư đúng chỗ có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế. Qua hình thức thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tập trung được khoản thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản ở các Ngân hàng, muốn thanh toán được thì trên tài khoản thanh toán phải luôn có số dư, điều này đã tạo ra được một nguồn vốn nhàn rỗi và tập trung vào ngân hàng. Càng nhiều khách hàng tham gia vào hoạt động thanh toán này thì số vốn càng lớn và bằng kênh tín dụng riêng của mình ngân hàng có thể đầu tư khi nền kinh tế kêu gọi vốn để phát triển.
− Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho ngân hàng dự đoán và kiểm soát bằng đồng tiền đối với nền kinh tế để sử dụng và phát huy các đòn bẩy kinh tế như lãi suất, tỉ trọng tín dụng trung dài hạn, tỉ giá hối đoái.mà không cần phải dùng tới các mệnh lệnh hành chính để điều tiết, kiểm soát và định hướng nền kinh tế.4 Những phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt Thể thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi - chuyển tiền. Uỷ nhiệm chi thực chất là lệnh chi tiền của chủ tài khoản lập theo mẫu in sẵn của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích chuyển một khoản tiền từ tài khoản của mình trả cho người thụ hưởng. Khái niệm "Ủy nhiệm chi" có nguồn gốc xuất phát từ tiếng Nga, còn "Lệnh chi" có nguồn gốc từ tiếng Anh Uỷ nhiệm chi có thể thanh toán trong phạm vi một Ngân hàng hoặc khác ngân hàng, có đặc điểm thanh toán nhanh, thủ tục đơn giản, do đơn vị mua chủ động phát SVTH: NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO Trang 5 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS NGUYỄN CHÍ ĐỨC hành sau khi họ đã hoàn thành việc nhận hàng hóa hay dịch vụ của bên bán. Như vậy, việc thu hồi vốn của bên bán bị phụ thuộc vào bên mua, nếu bên mua gặp khó khăn về tài chính thì quyền lợi của bên bán cũng bị ảnh hưởng.
Mặt khác, áp dụng thể thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi thì khả năng kiểm soát của ngân hàng bị hạn chế, vì quyền chủ động chi trả phụ thuộc vào chủ tài khoản, nếu đến hạn trả tiền mà người mua chưa trả thì ngân hàng cũng không kiểm soát được. Do vậy mà thể thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi thường được áp dụng đối với các tổ chức kinh tế có sự tín nhiệm lẫn nhau trong quan hệ mua bán và có khả năng tài chính tương đối ổn định.1: Quy trình thanh toán Uỷ nhiệm chi Bên mua Bên bán (1) (Người mua) (Người bán) (2) (4) (3) NHTM phục vụ NHTM phục vụ bên mua bên bán Nguồn: Nguyễn Đăng Dờn (2009) Nghiệp vụ ngân hàng thương mại (1) Bên bán giao hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho bên mua (2) Bên mua lập UNC (lập 4 liên) gửi đến ngân hàng phục vụ mình để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ cho bên bán (3) Ngân hàng bên mua kiểm tra UNC do bên mua chuyển đến nếu hợp lệ thì tiến hành thanh toán bằng cách trích tiền trên TK của bên mua (ghi Nợ TK bên mua trong trường hợp TK có đủ tiền hoặc thực hiện tương tự cho khách hàng được phép thấu chi) để trả cho bên bán ngay trong ngày theo các trường hợp sau: − Nếu bên bán và bên mua có TK cùng ngân hàng thì ghi Có vào TK bên bán và gửi giấy báo Có − Nếu bên bán có TK tại ngân hàng khác thì “ chuyển tiền chi” theo phương thức thích hợp Sau đó gửi giấy báo Nợ cho bên mua sau khi đã thu một khoản phí nghiệp vụ (4) Ngân hàng bên bán ghi Có vào TK của bên bán và gửi giấy báo Có cho bên bán ngay sau khi nhận được tiền hoặc giấy báo từ ngân hàng bên mua Thể thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm thu. Đi song song với khái niệm "Ủy nhiệm chi" là "Ủy nhiệm thu", cũng có nguồn gốc từ tiếng Nga.Thanh toán Uỷ nhiệm thu là một thể thức thanh toán được tiến hành trên cơ sở giấy uỷ nhiệm thu và các chứng từ hoá đơn do người bán lập và nộp vào ngân SVTH: NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO Trang 6 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS NGUYỄN CHÍ ĐỨC hàng nơi mình mở tài khoản, để uỷ nhiệm cho Ngân hàng thu hộ số tiền của người mua theo chứng từ thanh toán hợp lệ, hợp pháp. Uỷ nhiệm thu được áp dụng trong thanh toán tiền hàng và dịch vụ (trả tiền điện, nước, cước phí bưu điện,.) giữa người mua và người bán trên cơ sở hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng.
Uỷ nhiệm thu có thể thanh toán trong phạm vi một Ngân hàng hay hai Ngân hàng cùng hệ thống hoặc khác hệ thống. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường hình thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm thu thường là thanh toán chậm trễ, vì chứng từ xuất phát từ bên thụ hưởng, song theo nguyên tắc đòi hỏi phải ghi nợ trước, ghi có sau nên chứng từ phải luân chuyển qua nhiều khâu gây vòng vèo ách tắc trong thanh toán.2: Quy trình thanh toán Uỷ nhiệm thu Hợp đồng kinh tế Bên mua (1) Bên bán (Người mua) (Người bán) (4b) (2) (5) (2’) (3) NHTM phục vụ NHTM phục vụ bên mua bên bán (4a) Nguồn: Nguyễn Đăng Dờn (2009) Nghiệp vụ ngân hàng thương mại (1)Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết, bên bán tiến hành gửi hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho bên mua (2) Bên bán lập UNT (4 liên theo quy định) kèm theo các hoá đơn chứng từ giao hàng gửi NH phục vụ mình hoặc NH phục vụ người trả tiền (2’) để nhờ thu hộ. (3) NH bên bán kiểm tra bộ giấy tờ UNT nếu hợp lệ và khớp đúng thì ghi ngày tháng nhận chứng từ, ngày tháng kiểm soát vào chỗ quy định của UNT và gửi đi cho NH bên mua (liên 1, 2, 3) (4a) Khi nhận 3 liên UNT và các hoá đơn do NH bên bán chuyển đến, NH bên mua cần phải kiểm tra kỹ lưỡng, để xác định tính hợp lệ của chứng từ thanh toán và thông báo với bên mua.