Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Nghèo Đói Ở Các Hộ Gia Đình Khu Vực Duyên Hải Nam Trung Bộ Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói ở các hộ gia đình khu vực duyên hải nam trung bộ việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2009

87
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO ĐÓI

1.1. Khái niệm nghèo đói

1.2. Nghèo tuyệt đối

1.3. Nghèo tương đối

1.4. Các phương pháp xác định đối tượng nghèo hiện nay

1.4.1. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế

1.4.2. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo theo chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia

2. THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐÓI NGHÈO TẠI KHU VỰC DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VIỆT NAM

2.1. Đặc điểm kinh tế văn hoá xã hội khu vực duyên hải Nam Trung Bộ VN

2.1.1. Điều kiện tự nhiên của vùng duyên hải Nam Trung Bộ

2.1.2. Tình hình kinh tế văn hoá xã hội của vùng duyên hải Nam Trung Bộ

2.2. Phân tích thực trạng đói nghèo khu vực duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam theo mô hình kinh tế lượng

2.2.1. Mô tả dữ liệu điều tra mức sống dân cư các tỉnh duyên hải NTB

2.2.2. Phương pháp trích dữ liệu điều tra tại các đơn vị nghiên cứu

2.2.3. Phương pháp phân tích thực trạng đói nghèo khu vực duyên hải Nam Trung Bộ

2.2.4. Kết quả từ nghiên cứu thực trạng đói nghèo

2.3. Tình trạng nghèo và bất bình đẳng vùng duyên hải Nam Trung Bộ

2.4. Sự khác biệt lớn nhất giữa những hộ nghèo và không nghèo khu vực duyên hải Nam Trung Bộ

2.4.1. Nghề nghiệp và tình trạng việc làm

2.4.2. Khả năng tiếp cận đất đai

2.4.3. Trình độ học vấn của những người trưởng thành trong hộ

2.4.4. Quy mô hộ và tỷ lệ phụ thuộc

2.4.5. Giới tính của chủ hộ

2.4.6. Những hạn chế của dân tộc thiểu số

2.4.7. Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng thiết yếu

2.4.8. Khả năng tiếp cận tín dụng chính thức

2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng thu nhập của những hộ gia đình khu vực duyên hải Nam Trung Bộ

2.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo những hộ gia đình khu vực duyên hải Nam Trung Bộ

3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ NÂNG CAO MỨC SỐNG CÁC HỘ GIA ĐÌNH KHU VỰC DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VIỆT NAM

3.1. Dự báo về tình trạng đói nghèo trên thế giới và tại các hộ gia đình khu vực duyên hải Nam Trung Bộ trong thời gian tới

3.1.1. Xu hướng về tình hình nghèo đói trên thế giới

3.1.2. Xu hướng về tình hình nghèo đói tại Việt Nam và khu vực duyên hải NTB

3.2. Các giải pháp đề xuất nhằm xóa đói giảm nghèo

3.2.1. Đối với chính quyền địa phương

3.2.1.1. Tạo việc làm phi nông nghiệp
3.2.1.2. Hỗ trợ giáo dục cho người nghèo bằng cách nâng cao trình độ dân trí, kiến thức nông nghiệp cho người dân
3.2.1.3. Giảm quy mô hộ và số người phụ thuộc thông qua các chương trình kế hoạch hóa gia đình, khuyến khích phụ nữ tham gia nhiều hơn vào công tác xã hội ngoài công việc nội trợ

3.2.2. Đối với chính phủ

3.2.2.1. Nâng cao thu nhập từ việc làm nông nghiệp thông qua hệ thống khuyến nông và tạo thêm nhiều việc làm phi nông nghiệp
3.2.2.2. Mở rộng dịch vụ y tế, giáo dục và đào tạo nghề cho các hộ gia đình thuộc diện đói nghèo khu vực duyên hải Nam Trung Bộ
3.2.2.3. Cải thiện cơ sở hạ tầng cho các hộ gia đình thuộc diện đói nghèo
3.2.2.4. Đa dạng hóa nguồn vốn cho vay, kết hợp cho vay với hỗ trợ phương thức làm ăn, sản xuất

3.2.3. Đối với bản thân người nghèo

3.2.3.1. Phấn đấu nỗ lực vươn lên
3.2.3.2. Hợp tác với chính phủ trong việc thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo

3.3. Những hạn chế của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Những Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Nghèo Đói

Nghèo đói là một vấn đề phức tạp, đặc biệt tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam. Khu vực này có nhiều đặc điểm riêng biệt về kinh tế, xã hội và môi trường. Việc hiểu rõ các nhân tố kinh tếnhân tố xã hội ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đói là rất quan trọng. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố chính, từ điều kiện tự nhiên đến chính sách phát triển, nhằm tìm ra giải pháp hiệu quả cho vấn đề này.

1.1. Đặc Điểm Kinh Tế Xã Hội Tại Khu Vực Duyên Hải

Khu vực duyên hải Nam Trung Bộ có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và thủy sản. Tuy nhiên, sự phát triển không đồng đều giữa các tỉnh đã tạo ra sự chênh lệch lớn về thu nhập và mức sống. Các nhân tố xã hội như trình độ học vấn và khả năng tiếp cận dịch vụ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tình trạng nghèo đói.

1.2. Tình Hình Nghèo Đói Tại Khu Vực Duyên Hải

Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ vẫn còn cao. Các hộ gia đình thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận cơ sở hạ tầngdịch vụ y tế. Điều này dẫn đến tình trạng tái nghèo và khó khăn trong việc cải thiện mức sống.

II. Các Nhân Tố Kinh Tế Ảnh Hưởng Đến Nghèo Đói

Các nhân tố kinh tế như thu nhập, việc làm và khả năng tiếp cận tài chính có ảnh hưởng lớn đến tình trạng nghèo đói. Việc phân tích các yếu tố này giúp xác định nguyên nhân gốc rễ của vấn đề và tìm ra giải pháp phù hợp.

2.1. Tình Hình Việc Làm Và Thu Nhập

Tình trạng thất nghiệp và thu nhập thấp là những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói. Nhiều hộ gia đình không có việc làm ổn định, dẫn đến thu nhập không đủ để trang trải cho nhu cầu cơ bản. Việc tạo ra cơ hội việc làm là rất cần thiết để giảm nghèo.

2.2. Khả Năng Tiếp Cận Tài Chính

Khả năng tiếp cận tín dụng chính thức là một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện thu nhập. Nhiều hộ gia đình không thể tiếp cận nguồn vốn vay, dẫn đến khó khăn trong việc đầu tư vào sản xuất và kinh doanh.

III. Nhân Tố Xã Hội Ảnh Hưởng Đến Nghèo Đói

Các nhân tố xã hội như trình độ học vấn, giới tính và tình trạng gia đình cũng có ảnh hưởng lớn đến tình trạng nghèo đói. Việc phân tích các yếu tố này giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội của khu vực.

3.1. Trình Độ Học Vấn Của Chủ Hộ

Trình độ học vấn của chủ hộ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tìm kiếm việc làm và thu nhập. Những hộ gia đình có chủ hộ có trình độ học vấn thấp thường gặp khó khăn trong việc cải thiện điều kiện sống.

3.2. Tình Trạng Gia Đình Và Giới Tính

Tình trạng gia đình và giới tính cũng là những yếu tố quan trọng. Các hộ gia đình có nhiều người phụ thuộc thường gặp khó khăn hơn trong việc duy trì mức sống. Phụ nữ thường bị thiệt thòi hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực và cơ hội.

IV. Chính Sách Phát Triển Và Giải Pháp Giảm Nghèo

Chính sách phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo. Việc áp dụng các giải pháp phù hợp có thể giúp cải thiện tình hình nghèo đói tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ.

4.1. Các Chính Sách Hỗ Trợ Người Nghèo

Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách nhằm hỗ trợ người nghèo, bao gồm các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ tài chính. Tuy nhiên, việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn và cần được cải thiện.

4.2. Giải Pháp Tăng Cường Cơ Hội Việc Làm

Tạo ra nhiều cơ hội việc làm phi nông nghiệp là một trong những giải pháp quan trọng. Việc phát triển các ngành nghề mới có thể giúp người dân tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các nhân tố kinh tếnhân tố xã hội đều có ảnh hưởng lớn đến tình trạng nghèo đói. Việc áp dụng các giải pháp phù hợp có thể giúp cải thiện tình hình này.

5.1. Kết Quả Phân Tích Thực Trạng Nghèo Đói

Phân tích cho thấy rằng tỷ lệ hộ nghèo tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ vẫn còn cao. Các hộ gia đình cần được hỗ trợ để cải thiện điều kiện sống và tăng thu nhập.

5.2. Ứng Dụng Các Giải Pháp Vào Thực Tiễn

Các giải pháp đã được đề xuất cần được áp dụng vào thực tiễn để đạt hiệu quả cao nhất. Việc phối hợp giữa chính quyền và cộng đồng là rất quan trọng trong quá trình này.

VI. Kết Luận Về Tương Lai Của Nghèo Đói Tại Khu Vực Duyên Hải

Tương lai của tình trạng nghèo đói tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chính sách phát triển và sự tham gia của cộng đồng. Việc cải thiện điều kiện sống cho người dân là một nhiệm vụ cấp bách.

6.1. Dự Báo Tình Hình Nghèo Đói Trong Tương Lai

Dự báo cho thấy nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời, tình trạng nghèo đói có thể tiếp tục kéo dài. Cần có sự quan tâm đặc biệt từ chính phủ và các tổ chức xã hội.

6.2. Tầm Quan Trọng Của Các Giải Pháp Bền Vững

Các giải pháp bền vững cần được triển khai để đảm bảo sự phát triển lâu dài cho khu vực. Việc đầu tư vào giáo dục và y tế là rất cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói ở các hộ gia đình khu vực duyên hải nam trung bộ việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO ĐÓI 1.1 Khái niệm nghèo đói Nghèo được định nghĩa là bị bần cùng hóa về phúc lợi. Theo quan niệm truyền thống, nghèo được hiểu trước mắt là sự thiếu thốn về vật chất, sống với mức thu nhập và tiêu dùng thấp. Khái niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia, vùng hay từng cộng đồng dân cư nhìn chung không có sự phân biệt đáng kể. Hầu hết các tiêu chí để xác định nghèo đói đều dùng mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội.

Sự khác nhau thường là ở chỗ mức độ thỏa mãn cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như là cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức. (Bộ LĐTBXH, 2003) Tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 người nghèo được định nghĩa: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.

Theo Ngân hàng thế giới (NHTG), qua thời gian cũng có những cách tiếp cận khác nhau về nghèo trong các báo cáo của mình. Năm 1990, định nghĩa nghèo đói của tổ chức này là tình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu” bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến năm 2000 và 2001, NHTG đã thêm vào khái niệm tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương. Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 12 là khốn cùng.

Nghèo có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ (N. Tại Việt Nam chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, theo đó: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” (N.

Tuy có nhiều cách diễn giải khác nhau về nghèo đói nhưng tất cả những định nghĩa về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh cơ bản của người nghèo: - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; - Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng đó; - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng trong các trường hợp, nghèo về thu nhập – nghèo vật chất luôn liên quan đến cái gọi là nghèo về con người – sức khỏe kém, trình độ giáo dục thấp. Nghèo về thu nhập và nghèo về con người thường kèm theo tình trạng nghèo về xã hội như tính dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất lợi như bệnh tật, khủng hoảng kinh tế hoặc thiên tai, không có tiếng nói trong hầu hết các thể chế trong xã hội và sự bất lực trong việc cải thiện điều kiện sống cá nhân. Trong nghiên cứu này, tác giả thiên về sử dụng định nghĩa của Ngân hàng thế giới (NHTG) về nghèo, đó là trình trạng “không có khả năng có mức sống tối thiểu”.1 Nghèo tuyệt đối Một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 13 bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoản thời gian nhất định (Đinh Phi Hổ 2006).

Như vậy, tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống (ăn, ở, mặc, được chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước (NHTG).1 : Tiêu chuẩn nghèo đói của Ngân hàng thế giới Tiêu chuẩn nghèo đói (Mức thu nhập hoặc Khu vực chi tiêu USD/ ngày/người) Các nước đang phát triển 1 USD hoặc 360 USD/năm Châu Mỹ Latinh và Caribe 2 Đông Âu 4 Các nước phát triển 14,4 Tiêu chuẩn của NHTG về nghèo dựa trên chi tiêu tiêu dùng bao gồm mức tiêu thụ thực phẩm tối thiểu (70%) và các chi tiêu phi thực phẩm (30%) Bảng 1.2 : Tiêu chuẩn nghèo đói của Việt Nam. Tiêu chuẩn nghèo đói. Mức thu nhập (chi Khu vực tiêu)/ người/ tháng 2000-2005 2006-2010 Thành thị 150.000 đồng Nông thôn đồng bằng 120.000 đồng Nông thôn miền núi hải đảo 80.000 đồng Nguồn : Quyết định 143/2000 của Bộ LĐ TBXH.2 Nghèo tương đối Nghèo đói tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định (Đinh Phi Hổ, 2006). Theo cách sử dụng để phân tích các Điều tra Mức sống dân cư ở Việt Nam 1993-1998 thì Hộ gia đình được định nghĩa là nghèo nếu mức độ chi tiêu bình quân đầu người nằm trong 20% thấp nhất của chi tiêu hoặc 20% dân số có mức chi tiêu thấp nhất.

Lợi thế chính của phương pháp này là nó cho phép người ta xác định được rõ hơn các nhân tố làm tách biệt các hộ giàu với các hộ có thu nhập gần bằng hoặc thấp hơn giá trị trung vị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 14 Như vậy, theo cách tính này thì người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển nào.2 Các phương pháp xác định đối tượng nghèo hiện nay.1 Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm 1997-1998). Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm).

Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung.2 Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo theo chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia.

Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm 1997-1998). Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 15 Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày.

Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung. Kể từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo.

Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 đã được xây dựng dựa trên 3 yêu cầu : (1) xóa đói giảm nghèo toàn diện hơn, (2) công bằng hơn và (3) hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế. Theo đó, trong giai đoạn hiện nay, những hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng được xem là hộ nghèo. Ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng được xem như là hộ nghèo. Đây cũng là phương pháp xác định hộ nghèo được Bộ LĐTBXH áp dụng.3 Thước đo chỉ số nghèo đói và bất bình đẳng 1.1 Chỉ số đếm đầu (Po) Thước đo được dùng rộng rãi nhất là chỉ số đếm đầu, chỉ số này đơn giản là đo tỷ lệ người được tính là nghèo, thường ký hiệu là P0 với công thức sau: 1 N N P0 = ∑ I ( yi ≤ z ) = p N i= 1 N Trong đó: - N là tổng số hộ hay tổng dân số và - I (yi ≤ z) là hàm chỉ thị có giá trị bằng 1 khi biểu thức trong ngoặc là đúng và ngược lại không đúng là 0.

Vì vậy nếu chi tiêu (yi) nhỏ hơn chuẩn nghèo (z), thì I(yi ≤ z) bằng 1 và hộ gia đình đó được tính là nghèo. - Np là tổng số người nghèo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 16 Như vậy, chỉ số đếm đầu người là công thức đơn giản, dễ tính toán và dễ hiểu vì đây là những đặc trưng quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ