Chương 1 đã đưa ra mục tiêu, câu hỏi đặt ra, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp, tổng quan về nghiên cứu, nghĩa thực tiễn của đề tài cũng như là bố cục của đề tài nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tổng quan lý thuyết 2.1 Lý thuyết về hành vi 2.1 Khái niệm Theo từ điển tiếng Việt: Hành vi con người là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định. Theo từ điển tâm lý học Mỹ: Hành vi là thuật ngữ khái quát chỉ những hoạt động, hành động, phản ứng, phản hồi, di chuyển và tiến trình đó có thể đo lường được của bất cứ cá nhân nào. Theo Nguyễn Văn Ngọc, (2006), Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, hành vi là thuật ngữ rút ra từ tâm lý học dùng để chỉ hoạt động kinh tế, ví dụ hành vi của người tiêu dùng, hành vi của người sản xuất.
Khi sử dụng khái niệm này, kinh tế học nhấn mạnh động cơ, cách thức và mục tiêu tiến hành hoạt động kinh tế. Khi áp dụng cho một hệ thống lớn, chẳng hạn nền kinh tế, chúng ta gọi là hoạt động, nhứng nhấn mạnh phương thức vận hành của nó. Ví dụ khi nghiên cứu hoạt động của nền kinh tế, chúng ta tập trung nghiên cứu về phương thức, các yếu tố quy định sự vận hành của nó.2 Đặc điểm Theo Phùng Minh Tuấn, (2012), Đại học Tôn Đức Thắng, TP.HCM, Hành vi được chia làm 4 loại: Hành vi bản năng (bẩm sinh di truyền): Thỏa mãn nhu cầu sinh lý của cơ thể, tự vệ, mang tính lịch sử, mang tính văn hóa quốc gia vùng miền. Hành vi kỹ năng (thông qua tập luyện): các phản xạ có điều kiện khi chịu tác động bởi các kích thích bên ngoài, có tính mềm dẻo và dễ chuyển đổi, nếu được định hình trên vỏ não thì sẽ rất khó thay đổi.
7 Hành vi đáp ứng: Là hành vi ứng phó để tồn tại, phát triển và là những hành vi ngược lại với sự tự nguyện của bản thân và không có sự lựa chọn. Hành vi trí tuệ: Là hành vi đạt được do hoạt động trí tuệ nhằm nhận thức được bản chất của các mối quan hệ xã hội có quy luật của sự vật hiện tượng để đáp ứng và cải tạo thế giới.2 Lý thuyết về ý định Theo Ajzen, (1991), Ý định hành vi và hành vi, ý định (intention) là yếu tố được sử dụng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi của cá nhân. Theo Ajzen (1991), ý định mang tính thúc đẩy và thể hiện nỗ lực của một cá nhân sẵn sàng thực hiện một hành vi cụ thể, một dấu hiệu cho thấy sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định. Nó được coi là tiền đề của việc thực hiện hành vi.
Nó dựa trên thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi. (Ajzen, Theory of Planned Behaviour, 1991) Theo Ajzen và Fishbein, (1975), ý định hành vi là sự biểu thị tính sẵn sàng của mỗi người khi thực hiện một hành vi đã qui định, và nó được xem là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành vi. Ý định dựa trên các ước lượng bao gồm: thái độ dẫn đến hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. (Ajzen & Fishbein, Belief, Attitude, Intention, and Behavior, 1975) Theo Đại từ điển tiếng Việt, (1998), ý định bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân, các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nổ lực mà mỗi cá nhân phải bỏ ra để thực hiện hành vi.
(Khái niệm Ý định, 1998) Theo Nguyễn Anh Việt, (2015), ý định là việc sự rắp tâm làm việc gì đó, nó khác với dự định hay dự kiến. Dự định là định làm sẽ làm việc gì đó nếu không có gì thay đổi và như vậy nếu có biến cố xảy ra thì dự định đó có thể sẽ không được thực hiện, còn dự 8 kiến là thấy trước được điều có nhiều khả năng xảy ra hay chuẩn bị trước về một vấn đề gì đó. (Việt, 2015) Theo Đại từ điển tiếng Việt, (1998), ý định là ý muốn và những dự định về một việc gì đó.3 Lý thuyết về công việc Theo Bách khoa toàn thư mở, việc làm (tiếng Anh: job) hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi lấy việc thanh toán hoặc tiền công, thường là nghề nghiệp của một người. Một người thường bắt đầu một công việc bằng cách trở thành một nhân viên, người tình nguyện, hoặc bắt đầu việc buôn bán.
Thời hạn cho một công việc có thể nằm trong khoảng từ một giờ (trong trường hợp các công việc lặt vặt) hoặc cả đời (trong trường hợp của các thẩm phán). Nếu một người được đào tạo cho một loại công việc nhất định, họ có thể có một nghề nghiệp. Tập hợp hàng loạt các công việc của một người trong cả cuộc đời là sự nghiệp của họ. Theo Từ điển Cồ Việt, một công việc phải có điểm đầu và điểm kết thúc, phải có mục tiêu, kết quả, có nguồn lực.
Việc lựa chọn công việc là chọn ra công việc giữa nhiều công việc cùng loại.2 Lý thuyết liên quan 2. Thuyết hành động hợp lý (TRA) Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian. Mô hình TRA (Ajzen và Fishbein, 1975) cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng. Để quan tâm hơn về các yếu tố góp phần đến xu hướng mua thì xem xét hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng.
Trong mô hình TRA, Thái độ (Attitude Toward Behavior) là yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực, đồng tình hay phản đối của một người tiêu đối với 9 hành vi và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó. Thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau. Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của người tiêu dùng.
Thái độ đối với hành vi Ý định hành vi Hành vi Chuẩn chủ quan Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975 Sơ đồ 2. 1 Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA Chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức, suy nghĩ về những người ảnh hưởng (có quan hệ gần gũi với người có ý định thực hiện hành vi như: người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) cho rằng nên thực hiện hay không nên thực hiện hành vi. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng. Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng.
Hạn chế lớn nhất của thuyết này là hành vi của một cá nhân đặt dưới sự kiểm soát của ý định. Nghĩa là, thuyết này chỉ áp dụng đối với những trường hợp cá nhân có ý thức trước khi thực hiện hành vi. Vì thế, thuyết này không giải thích được trong các trường hợp: hành vi không hợp lý, hành động theo thói quen, hoặc hành vi được coi là không ý thức. Thuyết hành vi hoạch định (TPB) Thuyết hành vi hoạch định (TPB - Theory of Planned Behavior) được phát triển từ lí thuyết hành vi hợp lí (Ajzen và Fishbein, 1975), lí thuyết này được tạo ra do sự hạn 10 chế của lí thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lí trí.
Tương tự như lí thuyết TRA, nhân tố trung tâm trong lí thuyết hành vi có kế hoạch là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định. Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975 Sơ đồ 2. 2 Mô hình nghiên cứu thuyết hành vi hoạch định TPB Ba yếu tố quyết định cơ bản trong lí thuyết này: Yếu tố cá nhân là thái độ cá nhân đối với hành vi về việc tích cực hay tiêu cực của việc thực hiện hành vi; Về ý định nhận thức áp lực xã hội của người đó, vì nó đối phó với nhận thức của áp lực hay sự bắt buộc có tính qui tắc nên được gọi là chuẩn chủ quan; Cuối cùng là yếu tố quyết định về sự tự nhận thức hoặc khả năng thực hiện hành vi, được gọi là kiểm soát nhận thức hành vi. Lí thuyết cho thấy tầm quan trọng của thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức hành vi dẫn đến sự hình thành của một ý định hành vi.3 Tổng hợp một số nghiên cứu khoa học liên quan 2.1 Các nghiên cứu trong nước Công trình nghiên cứu 1: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn doanh nghiệp làm việc của người học khối ngành kinh tế-Trần Thị Diệu Huyền (2014) 11 Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn doanh nghiệp làm việc của người học khối ngành kinh tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, xem xét mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này, từ đó đưa ra một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao khả năng thu hút ứng viên khối ngành kinh tế cho doanh nghiệp.
Qua khảo sát sơ bộ xác định được 07 biến độc lập đo lường bằng 32 biến quan sát và 01 biến phụ thuộc (Ý định chọn doanh nghiệp làm việc) đo lường bằng 05 biến quan sát. Nghiên cứu định lượng thu thập dữ liệu được thực hiện qua bảng khảo sát. Kết quả thu được 529 bảng trả lời hợp lệ. Nghiên cứu đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn doanh nghiệp làm việc của người học khối ngành kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh, đó là: Sự phù hợp và cơ hội phát triển; Uy tín và thương hiệu tổ chức; Chính sách và môi trường làm việc; Quy trình và thông tin tuyển dụng và Thu nhập.
Qua phân tích, đo lường, kết quả nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng các yếu tố này có tác động dương đến ý định chọn doanh nghiệp làm việc của ứng viên, điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế và xu thế chọn nơi làm việc hiện nay. Kết quả được khẳng định thông qua mô hình hồi quy được kiểm định phù hợp với các giả thuyết đưa ra.