Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị - kiến nghị. TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Chương này nêu ra lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái quát về tín dụng Tín dụng vốn là quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật trên nguyên tắc người đi vay hoặc tổ chức đi vay phải hoàn trả cho người hoặc tổ chức cho vay cả nợ gốc lẫn lãi sau một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận. Hoạt động tín dụng có thể chia làm nhiều hình thức khác nhau căn cứ vào các tiêu chuẩn khác nhau, trong đó nếu căn cứ đối tượng đi vay thì có thể phân chia thành tín dụng cá nhân và tín dụng doanh nghiệp (Nguyễn Minh Kiều, 2007). Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) thì tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận cho khách hàng sử dụng một tài sản bằng tiền, tài sản thực hoặc uy tín với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng hay các nghiệp vụ khác.
Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Có nhiều cách định nghĩa nhưng tựu trung lại thì tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: (i) Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng; (ii) Sự chuyển nhượng này có thời hạn; và (iii) Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro. Khái niệm và đặc điểm của tín dụng cá nhân Theo từ điển “Tài chính ngân hàng” (Law và Smullen, 2005), tín dụng cá nhân “là khoản tiền hoặc tài sản mà các tổ chức tín dụng cung cấp cho một cá nhân sau khi đã đánh giá rủi ro về cá nhân này và tổ chức cung cấp tín dụng này sẽ nhận được khoản tiền gốc và lãi cho vay sau một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận”.
Đây cũng là khái niệm được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Theo các cách hiểu trên về tín dụng ngân hàng theo phạm vi nghiên cứu của đề tài này, có thể hiểu tín dụng cá nhân là “hình thức tín dụng mà trong đó tổ chức tín dụng đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sau khi đã đánh giá rủi ro về loại khách hàng này và ngân hàng sẽ nhận lại cả gốc và lãi cho vay sau một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận”. Đây cũng chính là định nghĩa được sử dụng trong đề tài này. Từ định nghĩa trên cho thấy tín dụng cá nhân là một loại hình của tín dụng, vì vậy nó mang những đặc điểm chung của tín dụng.
Có ba đặc điểm chung như sau: 5 Thứ nhất, tín dụng dựa trên cơ sở thông tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho khách hàng, cá nhân hay doanh nghiệp, khi có thông tin vào việc khách hàng sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích đă cam kết trong hợp đồng tín dụng, hiệu quả và có khả năng trả nợ (gốc và lăi) đúng hạn. Thứ hai, tín dụng là việc chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính, vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa là người cho vay.
Nguồn vốn ngân hàng sử dụng để cho vay được lấy từ nguồn vốn huy động, do vậy, tất cả các khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng có thể hoàn trả vốn huy động. Thứ ba, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lăi. Đây chính là thuộc tính riêng có của tín dụng. Người đi vay phải trả thêm một khoản lăi ngoài gốc, là chi phí của việc sử dụng vốn vay.
Đây là nguồn để ngân hàng bù đắp chi phí hoạt động, cũng như tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra, hoạt động tín dụng cá nhân còn mang một số đặc điểm riêng như: Thứ nhất, xét về mặt quy mô. Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. Các khoản tín dụng cấp cho khách hàng cá nhân là tương đối nhỏ so với tín dụng cấp cho doanh nghiệp.
Hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đă có số vốn tương đối và chỉ bổ sung phần còn thiếu. Tuy nhiên đối tượng vay là tất cả các cá nhân trong xă hội với nhu cầu hết sức đa dạng. Do đó tổng quy mô các khoản tín dụng cá nhân là cũng khá lớn. Thứ hai, xét về mặt lãi suất.
Lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn cho vay đối với doanh nghiệp. Số lượng các khoản vay thường rất lớn, nhưng quy mô mỗi khoản vay lại nhỏ. Để bù đắp chi phí và thu lợi nhuận, ngân hàng thường đặt ra mức lăi suất cao hơn so với cho vay doanh nghiệp. Thứ ba, xét về nhu cầu vay.
Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân thường nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế, tăng lên khi nền kinh tế mở rộng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái. Thứ tư, xét về nguồn trả nợ. Nguồn trả nợ của khách hàng chủ yếu phụ thuộc vào nguồn thu nhập từ lương, cho thuê tài sản, và thu nhập từ kinh doanh. Nguồn trả nợ này có thể có những biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kĩ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ.
Sự kiểm soát các nguồn thu này nhiều khi rất khó khăn. Thứ năm, ở khía cạnh rủi ro. Các khoản vay cá nhân thường có độ rủi ro cao do chất lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp thường không cao. Các loại rủi ro xuất phát từ hình thức tín dụng cá nhân Theo Miller (2012), thông thường hình thức tín dụng cá nhân có thể gây ra một số rủi ro như rủi ro về chi phí giao dịch, rủi ro về thông tin bất cân xứng, rủi ro về tác nghiệp, và rủi ro không trả được nợ vay.1 Rủi ro về chi phí giao dịch Rủi ro về chi phí giao dịch là rủi ro xảy ra khi chi phí cấu thành giao dịch tăng với tốc độ tăng lớn hơn lợi nhuận.
Theo Nguyễn Ngọc Lê Ca (2011) thì tín dụng cá nhân thường có quy mô giao dịch nhỏ nhưng số lượng giao dịch lớn và phân tán rộng khắp khiến cho việc giao dịch không được thuận tiện (Nguyễn Minh Kiều, 2007) và như vậy ngân hàng phải mở thêm nhiều chi nhánh hoặc các dịch vụ trực tuyến khác để phục vụ cho đặc điểm này của khách hàng cá nhân. Điều đó có thể dẫn đến rủi ro tăng chi phí trong khi hiệu quả đem lại không thể bù đắp được.2 Rủi ro thông tin bất cân xứng Lý thuyết thông tin bất đối xứng ngụ ý rằng người bán không hiểu rõ khách hàng như chính bản thân họ nên khó có thể phân biệt khách hàng này với khách hàng khác, nhất là về phương diện rủi ro. Khái niệm thông tin bất đối xứng và lý thuyết về thị trường với thông tin bất cân xứng đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu kinh tế quan trọng và hết sức thú vị. Các mô hình kinh tế với tình trạng thông tin không hoàn hảo đã trở thành một công cụ không thể thiếu được của các nhà nghiên cứu kinh tế.
Từ lý thuyết này đã có rất nhiều ứng dụng trong thực tế, từ những thị trường nông nghiệp truyền thống của các quốc gia đang phát triển cho đến những thị trường tài chính hiện đại ở những nền kinh tế phát triển khác. Cơ sở cho lý thuyết thông tin bất cân xứng này được đưa ra lần đầu tiên vào những năm 1970 bởi một nhóm ba nhà khoa học gồm George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz. Đến năm 2001 thì lý thuyết này đã khẳng định được vị trí trong nền kinh tế học hiện đại khi các nhà nghiên cứu nói trên cùng vinh dự được trao giải thưởng Nobel Kinh tế cho công trình nghiên cứu “phân tích các thị trường với tình trạng thông tin bất cân xứng”. Lý thuyết thông tin bất cân xứng ra đời khi lý thuyết kinh tế học tân cổ điển đã thất bại trong việc giải thích một cách hiệu quả tại sao các thể chế thị trường xuất hiện.
Lý thuyết kinh tế tân cổ điển về thị trường giả định người bán và người mua có thông tin hoàn hảo về: (i) đối tác bên kia của giao dịch, (ii) chất lượng, đặc điểm của hàng hóa hay dịch vụ được trao đổi, và (iii) cấu trúc thị trường. Giả định trên là hoàn toàn hợp lý nếu như ta dễ dàng có được các thông tin. Tuy nhiên, trên thực tế phải tốn chi phí mới có được thông tin, thậm chí trong nhiều trường hợp một đối tượng tham gia giao dịch không thể biết được thông tin của đối tác bên kia cho dù có bỏ bao nhiêu tiền để thu thập thông tin đi nữa. Trong thị trường tài chính, người cho vay thường phải mất chi phí khá cao để xác định được mức độ uy tín hay thành tích tín dụng của người đi vay tiềm năng.
Lý thuyết thông tin bất đối xứng đi vào nghiên cứu tình trạng các bên tham gia vào giao dịch không có các lượng thông tin cân xứng nhau. Một bên trong giao 7 dịch có lợi thế về thông tin (informed party) còn bên kia bị bất lợi về thông tin (uninformed party). Thông tin ở đây có thể là một hành động (action) hay một đặc điểm (characteristic) của bên có lợi thế về thông tin. Lý thuyết này đưa ra ba lớp bài toán quan trọng là lựa chọn ngược (hay còn gọi là lựa chọn bất lợi - adverse selection), rủi ro đạo đức (hay còn được dịch là tâm lý ỷ lại - moral harzard) và phát tín hiệu (signalling).