CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của NHTM 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài: Theo các nghiên cứu trước đây, KNSL của NHTM được thể hiện qua các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Yếu tố bên trong là yếu tố tạo ra từ tài khoản ngân hàng (bảng cân đối, tài khoản doanh thu hay chi phí). Yếu tố bên ngoài là yếu tố không liên quan tới khả năng quản lý nhưng phản ánh môi trường pháp lý, kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng. Các nghiên cứu về KNSL của NHTM thông thường có thể chia làm 2 loại: nghiên cứu tại các NH tại một quốc gia và nghiên cứu ở nhiều NH thuộc các quốc gia khác nhau.
Về khái niệm khả năng sinh lời của NHTM, Peter S. Rose (2002) trình bày khái niệm về lợi nhuận ngân hàng rằng các ngân hàng về cơ bản đạt được lợi nhuận từ hoạt động cho vay thông qua sự khác biệt giữa lãi suất trả cho người gửi tiền và lãi suất nhận được từ khách hàng vay. Thêm vào đó thu từ các khoản đầu tư chứng khoán, tiền gửi hưởng lãi tại các ngân hàng khác và các tài sản có sinh lời khác. Những khoản chi phí phát sinh trong quá trình tạo ra nguồn thu trên bao gồm tiền lãi trả cho những khoản vay, chi phí vốn tự có, tiền lương và phúc lợi trả cho nhân viên, chi phí hoạt động liên quan đến tài sản vật chất của ngân hàng, phân bổ dự phòng tín dụng, thuế và những chi phí khác.
Chênh lệch giữa các khoản thu và chi phí trên là lợi nhuận của ngân hàng.Rose (2002) thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần và thu hút vốn đầu tư.Rose (2002) nêu ra các tỷ lệ quan trọng nhất đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng hiện nay và cũng có giải thích ý nghĩa các tỷ lệ này. Các tỷ lệ được sử dụng rộng rãi gồm: Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), ROA là chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả của quản lý. Nó chỉ ra rằng khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình 9 chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.
ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng. Nếu ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức. Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả hoạt động hữu hiệu, cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế. ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng.
Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng ( tức là đầu tư chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý). Ngoài ra, trong đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, các nhà quản trị còn xem xét mối quan hệ giữa chỉ tiêu ROA và ROE vì trên thực tế hai chỉ tiêu này phản ánh sự đánh đổi giữa rủi ro và thu nhập. Chính điều này cho thấy một ngân hàng có thể ROA thấp nhưng vẫn đạt được ROE khá cao do họ sử dụng đòn bẩy tài chính lớn. Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả sử dụng ROA làm biến đại diện cho khả năng sinh lời của các NHTM vì… chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả của ngân hàng trong quản lý doanh thu và chi phí, phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng thành lợi nhuận ròng.
Ngoài ra, ROE là đánh giá đến tác động của đòn bẩy tài chính và những rủi ro đi kèm với của đòn bẩy tài chính, vì thế có thể khiến kết quả thiếu chính xác trong thực tế hơn.” Về các yếu tố ảnh hướng đến khả năng sinh lời của ngân hàng, có rất nhiều nghiên cứu tìm cách xác định các yếu tố quyết định khả năng sinh lời của ngân hàng. Short (1979) và Bourke (1989) cung cấp các nghiên cứu đầu tiên về khả năng sinh lời của ngân hàng. Sau đó, có rất nhiều nghiên cứu tiếp theo, một số nghiên cứu tập trung vào một quốc gia cụ thể như Guru và ctg (2002) tại Malaysia, Bennaceur và Goaied (2008) tại Tunisia, Vong và Chan (2009) tại Macao, Jiang và ctg (2003) tại HongKong, Davydenko (2011) tại Ukraine. và một số nghiên cứu khác khảo sát ở nhiều quốc gia Molyneux và Thornton (1992), Abreu và Mendes (2003) tại các nước châu Âu, Dermirguc- Kunt và Huizinga (1999) sử dụng dữ liệu của 80 quốc gia trên thế giới, Flamini và ctg (2009) tại 41 quốc gia thuộc khu vực 10 châu Phi cận Sahara.
Hầu hết các nghiên cứu trước đây cho dù thực hiện ở một quốc gia hay đa quốc gia đều sử dụng các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi như ROA, ROE như biến phụ thuộc để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng. Dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước, yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng chia thành hai loại đó là các yếu tố nội bộ và các yếu tố bên ngoài ngân hàng. Yếu tố nội bộ có thể kiểm soát được bởi các nhà quản trị ngân hàng, các yếu tố này thể hiện trên các khoản mục trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các yếu tố nội bộ thường được khảo sát là quy mô, vốn chủ sở hữu, tiền gửi, tỷ lệ khoản vay, thanh khoản, chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng, hình thức sở hữu, tăng trưởng tiền gửi, tiền vay, rủi ro tín dụng, đòn bNy tài chính, tỷ lệ an toàn vốn.
Biến bên ngoài là những yếu tố vượt ra ngoài sự kiểm soát của các nhà quản trị ngân hàng. Các yếu tố bên ngoài được thảo luận nghiên cứu rộng rãi bao gồm: thị phần ngân hàng, lãi suất, lạm phát, tăng trưởng GDP, GDP thực, tỷ giá, vốn hóa thị trường, mức độ tập trung của thị trường. Những yếu tố phổ biến ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng nêu trên được sử dụng rộng rãi bởi nhiều nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu khác nhau đáng kể do sự biến đổi của môi trường và các dữ liệu được đưa vào phân tích.
Một trong những nhân tố phổ biến được đề cập trong các nghiên cứu là Quy mô ngân hàng: Theo Kosmidou và ctg (2005) quy mô ngân hàng thường được nghiên cứu như một yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Trong hầu hết các tài liệu tài chính, quy mô của ngân hàng được đo bằng tổng tài sản. Bên cạnh đó cũng có một số tác giả sử dụng logarit của tiền gửi và cho vay để đo lường hiệu quả của quy mô. Ngân hàng cỡ lớn có thể đạt được hiệu quả kinh tế quy mô với chi phí giảm hoặc hiệu quả kinh tế trong phạm vi cho vay nhiều hơn và mức độ đa dạng hóa sản phẩm cao hơn có thể tiếp cận những thị trường mà một ngân hàng nhỏ không thể tham gia được.
Ảnh hưởng của quy mô ngân hàng đến khả năng sinh lời của nó không đồng đều. Trong một nghiên cứu của các ngân hàng châu Âu cho giai đoạn năm từ 1992 đến 1998, Goddard và ctg (2004) đã xác định chỉ có mối quan hệ nhỏ giữa quy mô 11 và lợi nhuận. Một số nghiên cứu trước đó có kết quả khác nhau. Smirlock (1985) chứng minh tác động đáng kể và tích cực của quy mô của một ngân hàng về lợi nhuận của nó.
Short (1979) đi xa hơn bằng cách tuyên bố quy mô có một ảnh hưởng tích cực lên lợi nhuận thông qua việc giảm chi phí huy động vốn cho các ngân hàng lớn. Sau đó, nghiên cứu bởi Goddard và ctg (2004) hỗ trợ các đề xuất rằng tăng quy mô của một ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận thông qua chi phí vốn. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng đưa ra một số bằng chứng cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa quy mô và khả năng sinh lời của ngân hàng và giải thích quy mô của ngân hàng nếu không hiệu quả sẽ tác động ngược chiều với khả năng sinh lời. Antonio (2012) cho rằng với các ngân hàng cỡ trung bình đạt hiệu quả kinh tế về quy mô hơn so với một trong hai ngân hàng lớn hay nhỏ.
Ảnh hưởng của quy mô là phi tuyến tính, ảnh hưởng tích cực tới lợi nhuận càng tăng và sau đó giảm vì những lý do quan liêu và lý do khác, đến một ngưỡng nhất định của quy mô, phi kinh tế của quy mô có thể phát sinh. Garcia-Herrero và ctg (2007) có kết luận rằng một ngân hàng có quy mô lớn nên giảm chi phí vì hiệu quả kinh tế, quy mô lớn cũng có thể hàm ý rằng ngân hàng khó khăn hơn nhiều để quản lý hoặc nó có thể là hậu quả của chiến lược tăng trưởng mạnh mẽ của một ngân hàng. Miller và Noulas (1997) quan sát các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng tại Mỹ cho giai đoạn 1985-1990, cho thấy quy mô của các ngân hàng đã được tìm thấy là liên quan nghịch biến với lợi nhuận. Mối quan hệ tiêu cực với quy mô này chỉ ra sự thiếu hiệu quả kinh tế về quy mô.
Kosmidou và ctg (2005) điều tra các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Vương quốc Anh giai đoạn 1995-2002 kết luận rằng một trong các yếu tố quyết định quan trọng là tỷ lệ quy mô ngân hàng có tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu bao gồm cả Berger và ctg (1987) cho rằng không có mối quan hệ đáng kể giữa quy mô và khả năng sinh lời của ngân hàng. Do đó, kết quả khả năng sinh lời của ngân hàng độc lập với quy mô của chúng. Tỷ lệ dư nợ cũng là một biến được sử dụng phổ biến ở các mô hình nghiên cứu khả năng sinh lời của NHTM.