CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Dưới đây tác giả trình bày một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài vận dụng kế toán quản trị của các doanh nghiệp, từ đó rút ra một số nhận xét liên quan đến những nghiên cứu này và xác định khe hổng nghiên cứu.1 Các nghiên cứu nước ngoài Hutaibat, K. (2005) với nghiên cứu “Management accounting practices in Jordan: A contingency approach”. Doctoral dissertation, University of Bristol. Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết những mục tiêu chính như: điều tra mức độ sử dụng các kỹ thuật kế toán quản trị truyền thống; xác định các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị.
Để hoàn thành các mục tiêu này, dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ việc khảo sát và phỏng vấn các đối tượng có liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan đáng kể giữa một số thực tiễn kế toán quản trị nhất định và bốn biến giải thích, đó là quy mô công ty, cạnh tranh, loại ngành và sở hữu nước ngoài, đồng thời nghiên cứu cũng xác nhận rằng không có mối liên hệ đáng kể nào giữa vận dụng kế toán quản trị và tuổi công ty hoặc quyền sở hữu nhà nước. Những phát hiện của nghiên cứu cung cấp một cái nhìn tổng quan về thực trạng vận dụng kế toán quản trị trong các công ty công nghiệp ở Jordan, cụ thể, các công ty công nghiệp ở Jordan đang phải đối mặt với những thách thức trong môi trường kinh doanh, cạnh tranh toàn cầu cao, bất ổn chính trị khu vực và thiếu tài nguyên thiên nhiên, do đó yêu cầu vận dụng kế toán quản trị là cần thiết, xong thực tế cho thấy các công ty này vẫn đang sử dụng các kỹ thuật kế toán quản trị truyền thống thay vì mới vận dụng các kỹ thuật kế toán quản trị mới như ABC, BSC,. Abdel -Kader và Luther, R.(2008) với nghiên cứu “The impact of firm characteristics on management accounting practices: A UK-based empirical analysis”.
Nghiên cứu thực hiện xem xét ảnh hưởng của 10 yếu tố gồm các đặc điểm bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến thực hành kế toán quản trị. Kết quả cho thấy sự khác biệt về thực hành kế toán quản trị được giải thích đáng kể bởi sự không chắc chắn của môi trường kinh doanh, áp lực từ phía khách hàng, phân cấp quản lý, quy mô công ty, AMT, TQM và JIT. Mặt khác, các nhân tố như chiến lược cạnh tranh, độ phức tạp của hệ thống xử lý và tính dễ hỏng của sản phẩm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 không ảnh hưởng đến thực hành kế toán quản trị. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, trong đó nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng, dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi khảo sát đến đối các đối tượng trả lời phòng vấn.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tập trung nghiên cứu ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống để loại bỏ những phiền nhiễu không liên quan phát sinh từ sự khác biệt giữa các ngành công nghiệp khác nên tính tổng quát của đề tài không cao. Tuan Mat (2010) với nghiên cứu “Management accounting and organizational change : impact of alignment of management accounting system, structure and strategy on performance”. Edith Cowan University. Theo nghiên cứu này, toàn cầu hóa đã mang lại công nghệ mới và làm cho môi trường kinh doanh ở Malaysia trở nên cạnh tranh hơn, đặc biệt là đối với nhóm ngành sản xuất.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích điều tra tác động của các yếu tố bên ngoài và bên trong tổ chức đã ảnh hưởng đến thực tiễn kế toán quản trị và đối với hiệu suất của các tổ chức như thế nào. Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường cạnh tranh và công nghệ sản xuất tiên tiến làm ảnh hưởng đến chiến lược và cấu trúc tổ chức, từ đó ảnh hưởng đến kế toán quản trị và hiệu suất của tổ chức. Tác giả lập luận khi môi trường kinh doanh liên tục thay đổi, các tổ chức và người quản lý của họ sẽ thấy việc đối phó với những thay đổi này là rất quan trọng, yêu cầu cung cấp thông tin liên quan là điều cần thiết để các nhà quản lý đưa ra quyết định hiệu quả. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trong đó nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng, và mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được sử dụng làm kỹ thuật thống kê chính để kiểm tra mô hình giả thuyết được phát triển trong nghiên cứu này.
Joseph Crispus Ndungu Karanja, Evanson Mwangi, Pius Nyaanga (2013) với “Adoption of Modern Management Accounting Techniques in Small and Medium (SMEs) in Developing Countries: A Case Study of SMEs in Kenya”. Theo nghiên cứu này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội của các nước đang phát triển. Hoạt động với hiệu quả chi phí tối đa là rất quan trọng cho cả sự sống còn và nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các kỹ thuật kế toán quản trị ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Kenya.
Nghiên cứu được thực hiện với mẫu nghiên cứu gồm 120 người gồm các doanh nhân và nhà quản lý trong các doanh nghiệp, dữ liệu được xử lý bằng SPSS. Nghiên cứu xác định các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến vận dụng các kỹ thuật kế toán quản trị hiện đại gồm: Quy mô công ty, chiến lược tổ chức, tuổi của công ty; và các yếu tố bên ngoài gồm: Cạnh tranh, nguồn lực hiện có, cơ sở hạ tầng hiện có, tiến bộ công nghệ. Nghiên cứu cũng chỉ ra việc vận dụng các kỹ thuật kế toán quản trị hiện đại tại các doanh nghiệp này vẫn còn rất hạn chế, tuy nhiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ này là động lực kinh tế và xã hội do vậy các cơ quan quản lý cần ban hành các văn bản liên quan đến vận dụng và hướng dẫn vận dụng các kỹ thuật kế toán quản trị này. Kamilah Ahmad Shafie Mohamed Zabri (2015) “Factors explaining the use of management accounting practices in Malaysian medium-sized firms”.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết mục tiêu phân tích ảnh hưởng của một số nhân tố đến thực hành kế toán quản trị tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến thực hành kế toán quản trị tại một số doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Malaysia gồm quy mô doanh nghiệp, mức độ cạnh tranh của thị trường, cam kết của chủ sở hữu / người quản lý và công nghệ sản xuất tiên tiến. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát gửi đến các đối tượng khảo sát gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực sản xuất ở Malaysia, với mẫu chính thức gồm 110 doanh nghiệp. Hồi quy logistic nhị phân được sử dụng để điều tra các giả thuyết nghiên cứu.
Sandra Cohen, Sotirios Karatzimas, Vassilios – Christos Naoum (2015) “Management accounting systems in SMEs: A Means to Adapt to the Financial Crisis?”. Nghiên cứu này xem xét sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trong việc áp dụng hệ thống KTQT của các DNNVV ở Hy Lạp. Cụ thể, tác giả đánh giá các DNNVV Hy Lạp đã và đang điều chỉnh hệ thống KTQT như thế nào và phản ứng của các DN này trước sự áp lực mạnh mẽ từ cuộc khủng hoảng tài chính. Từ đó, khám phá việc áp dụng hệ thống lập ngân sách và chi phí, cũng như các phương pháp và kỹ thuật KTQT khác nhau trong giai đoạn 2009 – 2013.
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên bảng câu hỏi khảo sát gửi tới 161 DNNVV của các lĩnh vực sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 xuất, thương mại và dịch vụ. Kết quả cho thấy, các khía cạnh khác nhau của cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến việc các DNNVV áp dụng có điều chỉnh hệ thống KTQT của họ. Có sự gia tăng về số lượng các DNNVV bắt đầu áp dụng các hệ thống lập ngân sách và tính chi phí trong giai đoạn này. Ngoài ra, các DN này còn sử dụng một số kỹ thuật KTQT hiện đại và kỹ thuật đo hiệu suất được tăng cường nhưng ở mức độ vừa phải.
Kamilah Ahmad (2017) với nghiên cứu “The Implementation Of Management Accounting Practices And Its Relationship With Performance In Small And Medium Enterprises”. Nghiên cứu này được thiết kế để khám phá mức độ sử dụng KTQT giữa các DNNVV ở các nước đang phát triển và để tìm ra mối quan hệ giữa KTQT và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu phản ánh cách tiếp cận đơn giản của hệ thống KTQT cơ bản phù hợp và thuận tiện để được áp dụng trong môi trường DN nhỏ. Đồng thời, nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống KTQT cơ bản hoặc truyền thống vẫn chiếm ưu thế trong hầu hết các công ty.
Các DNNVV của Malaysia đã áp dụng rộng rãi các kỹ thuật KTQT cơ bản như hệ thống chi phí; hệ thống ngân sách và hệ thống đo lường hiệu suất. Việc chấp nhận các kỹ thuật truyền thống có thể là do thông tin và chuyên môn liên quan đến các kỹ thuật này là có sẵn và dễ dàng áp dụng nhất so với các kỹ thuật kế toán quản lý hiện đại. Việc áp dụng thấp các kỹ thuật mới được phát triển là do thái độ bảo thủ của quản lý, quản lý độc đoán, thiếu đào tạo, chuyên môn và sự định hướng lâu dài. Hơn nữa, kết quả cho thấy hầu hết người trả lời khảo sát cho rằng việc áp dụng các kỹ thuật kế toán quản trị mới là tốn kém; các doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng KTQT cao hơn so với các doanh nghiệp siêu nhỏ.
Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy KTQT đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu suất của công ty.2 Các nghiên cứu trong nước Phạm Văn Dược, Trần Anh Hoa, Đào Tất Thắng (2006) với nghiên cứu “Xây dựng mô hình kế toán quản trị vận dụng trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp”. Nghiên cứu trước hết hệ thống cơ sở lý luận về kế toán quản trị vận dụng cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, làm rõ vai trò, chức năng, đối tượng sử dụng thông tin là cơ sở để định hướng mô hình và nội dung kế toán quản trị được vận dụng; tiếp đó, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực trạng áp dụng kế toán quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.