Chương 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010 có hiệu lực 01/07/2011 định nghĩa: “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. 9 c) Hợp đồng góp vốn đầu tư; d) Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.” Nguyễn Văn Nam & Vương Trọng Nghĩa (2002) định nghĩa rằng: “Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư (tư bản đầu tư); chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một hạn nào đó.” Từ hai định nghĩa trên tuy khác nhau về định nghĩa song về cơ bản chứng khoán một công cụ tài chính giúp công ty có thể huy động vốn ngoài thị trường vốn. Đặc điểm của chứng khoán Người nắm giữ chứng khoán là người góp vốn đồng thời là chủ sở hữu hoặc chủ nợ của NHTM.
Chứng khoán có các đặc điểm chủ yếu sau: Tính thanh khoản (Tính lỏng): Tính lỏng của tài sản là khả năng chuyển tài sản đó thành tiền mặt. Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào khoản thời gian và phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc giảm sút giá trị của tài sản đó do chuyển đổi. Chứng khoán có tính lỏng cao hơn so với các tài sản khác, thể hiện qua khả năng chuyển nhượng cao trên thị trường và nói chung, các chứng khoán khác nhau có khả năng chuyển nhượng khác nhau. Tính rủi ro: Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống.
Rủi ro có hệ thống hay rủi ro thị trường là các loại rủi ro tác động tới toàn bộ hoặc hầu hết các tài sản. Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tế chung như: lạm phát, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, lãi suất. Rủi ro không có hệ thống là các loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hoặc một nhóm nhỏ các tài sản. Loại rủi ro này thường liên quan tới điều kiện của nhà phát hành.
Tính sinh lợi: chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó nhà đầu tư muốn nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai. Thu nhập này được đảm bảo bằng lợi tức được phân chia hàng năm và việc tăng giá chứng khoán trên thị trường. Khả năng sinh lợi bao giờ cũng quan hệ chặt chẽ với rủi ro của tài sản, thể hiện trong nguyên lý – mức độ chấp nhận rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn. Phân loại chứng khoán 10 Có nhiều cách phân loại chứng khoán dựa trên những tiêu chí khác nhau.
Dưới đây là một số cách phân loại chứng khoán: Phân loại chứng khoán theo tính chất: Theo tính chất của chứng khoán, các loại chứng khoán được phân thành Chứng khoán vốn; Chứng khoán nợ; Các chứng khoán phái sinh. Chứng khoán vốn (cổ phiếu) là chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu phần vốn góp và các quyền hợp pháp khác đối với tổ chức phát hành. Đại diện cho chứng khoán vốn là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư. Chứng khoán vốn được phát hành khi thành lập công ty cổ phần hoặc khi công ty cần tăng vốn điều lệ.
Chứng khoán nợ, điển hình là trái phiếu, tín phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người đi vay) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc và lãi trong những khoảng thời gian cụ thể. Những đặc trưng cơ bản của trái phiếu: Trên tờ trái phiếu cơ bản có những thông tin sau: Mệnh giá, lãi suất trái phiếu và thời gian đáo hạn của trái phiếu. Mệnh giá của trái phiếu là số tiền ghi trên bề mặt trái phiếu. Lãi suất trái phiếu là lãi suất mà tổ chức phát hành sẽ trả cho người sở hữu trái phiếu khi đáo hạn thanh toán.
Thời gian đáo hạn của trái phiếu là thời gian chấm dứt khoản nợ, tổ chức phát hành sẽ thu hồi trái phiếu bằng các hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng khoán và có quan hệ chặt chẽ cới các chứng khoán gốc Phân loại chứng khoán theo khả năng chuyển nhượng: Phân loại chứng khoán theo khả năng chuyển nhượng: Theo cách thức này chứng khoán được phân thành chứng khoán ghi danh và chứng khoán vô danh. Chúng khoán ghi danh (giấy xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ có ghi tên chủ sở hữu). Loại chứng khoán được phép chuyển nhượng nhưng phải tuân theo những qui định pháp lý cụ thể.
Nếu muốn chuyển nhượng người sở hữu phải chứng minh mình là người được phép và có quyền chuyển nhượng (xác nhận chữ ký, chứng minh thư, tên trong danh sách cổ đông). Cụ thể là cổ phiếu ghi danh và trái phiếu ghi danh là những loại chứng khoán mi tên và những thông tin cần thiết của người sở hữu được ghi trên phần bìa của những chứng khoán này. 11 Chứng khoán vô danh (giấy xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ không ghi tên chủ sở hữu). Loại chứng khoán này được chuyển nhượng dễ dàng, không cần thủ tục xác nhận của công ty hoặc cơ quan công chứng, người mua có trách nhiệm chi trả cho người bán theo giá cả đã được xác định.
Phân loại chứng khoán theo thu nhập: tùy theo từng loại thu nhập, chứng khoán được chia thành các loại sau: Chứng khoán có thu nhập cố định, chứng khoán có thu nhập biến đổi, chứng khoán hỗn hợp. Chứng khoán có thu nhập cố định là loại chứng khoán có quyền yêu cầu thu nhập cố định không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của nhà phát hành. Chứng khoán có thu nhập cố định bao gồm chủ yếu các loại sau: Trái phiếu Nhà nước, Trái phiếu địa phương, trái phiếu công ty, trái phiếu Ngân hàng và tín phiếu quỹ tiết kiệm, tín phiếu Kho Bạc. Với loại chứng khoán này, do rủi ro thấp hơn so với chứng khoán có thu nhập biến đổi nên sự thay đổi về giá là thấp hơn, tỷ lệ lợi tức quyết định chủ yếu tới khả năng sinh lời của chứng khoán.
Bị ảnh hưởng của rủi ro lãi suất, cả người mua và người bán đều quan tâm tới tỷ lệ lợi tức vào từng thời điểm. Chứng khoán có thu nhập biến đổi cổ phiếu thường đại diện cho loại chứng khoán có thu nhập biến đổi, Thu nhập do việc sở hữu cổ phiếu mang lại gọi là cổ tức (hay lợi tức cổ phần), nó biến động theo kết quả kinh doanh của công ty. Hình thức khác của các loại chứng khoán này là phiếu tham gia chứng chỉ đầu tư. Loại chứng khoán này khác với cổ phiếu thường ở chỗ không được quyền tham gia giám sát hoạt động của công ty.
Khi phát hành chứng chỉ đầu tư, công ty có thể huy động được vốn vô thời hạn, không chịu rủi ro về chi trả lợi tức cố định như cổ phiếu ưu đãi hay trái phiếu, song không bị pha loãng quyền kiểm soát của các cổ đông. Chứng khoán hỗn hợp vừa mang tính chất của chứng khoán có thu nhập cố định, vừa mang tính chất của chứng khoán có thu nhập biến đổi. Việc phát hành loại chứng khoán này nhằm để thích hứng với nhu cầu đặc biệt của thị trường vốn. Chứng khoán hỗn hợp có những loai chủ yếu sau: Trái phiếu có khả năng chuyển đổi, trái phiếu có quyền mua cổ phiếu, trái phiếu có thu nhập bổ sung.
Khái niệm cổ phiếu Khái niệm: Theo Bùi Kim Yến (2003) cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần, 12 đây là giấy tờ có giá xác nhận quyền sở hữu của cổ đông, đối với công ty cổ phần. Người mua cổ phiếu thường trở thành cổ đông thường hay cổ động phổ thông. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường là một trong những người chủ của doanh nghiệp nên là người trực tiếp thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh cũng như lãnh chịu mọi rủi ro trong kinh doanh, do đó cô phiếu thường có những đặc điểm sau: Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn do đó không có kỳ hạn và không hoàn vốn, cổ phiếu tồn tại từ khi công ty bắt đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán cho đến khi công ty giải thể hoặc tư nhân hóa. Cổ tức của cổ phiếu thường tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó không cố định.
Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt cổ đông cũng được hưởng lợi nhuận cao hơn nhiều so với các loại chứng khoán khác có lãi suất cố định. Nhưng ngược lại, cổ tức có thể rất thấp hoặc hoàn toàn không có khi công ty làm ăn thua lỗ. Khi công ty bị phá sản, cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị còn lại của tài sản thanh lý. Theo điều 54 Luật Phá sản 2014 thì khi công ty phá sẵn, sau khi trừ đi các khoản chi phí phá sản, trả lương cho người lao động, các khoản thuế phải nộp, trả nợ vay, trả nợ cho đối tác cung ứng hàng hóa, dịch vụ,… mà vẫn còn thì phần còn lại mới thuộc về các cổ đông.
Giá cổ phiếu biến động rất nhanh nhay đặc biệt là trên thị trường thứ cấp, do nhiều nhân tố nhưng nhân tố cơ bản nhất là hiệu quả kinh doanh và giá trị thị trường của công ty b. Những vấn đề chung về giá cổ phiếu Một cổ phiếu thường mang trong mình rất nhiều giá trị dưới đây là một số định nghĩa về giá trị của cổ phiếu thường và các xác định chúng. - Mệnh giá cổ phiếu thường Mệnh giá (Par - value): giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu là mệnh giá của cổ phiếu.