Chương I đến chương XXIV và một số sản phẩm cụ thể thuộc các chương khác trong Hệ thống mã HS (trừ cá và sản phẩm cá). Như vậy, nông sản bao gồm: - Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi,…; - Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt,…; - Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô,… Theo quan điểm của Liên minh Châu Âu (EU) Mặc dù EU không quy định cụ thể “nông sản” trong nguồn luật nào, nhưng Ban giám đốc thương mại của Ủy ban Châu Âu (DG Trade) đưa ra danh sách những mặt hàng được coi là nông sản dựa trên Danh mục tiêu chuẩn ngoại thương phiên bản 3 (SITC Rev.3) như sau1 : o 0 – Thức ăn và động vật sống o 1 – Đồ uống và thuốc lá o 21 – Da và lông thú, da sống o 22 – Hạt dầu và quả có dầu o 231 – Cao su thiên nhiên, balata, gutta-percha, guayule, chicle và lợi tự nhiên tương tự, ở dạng nguyên sinh (kể cả latex) hoặc dạng tấm, lá hoặc dải 1 Directorate-General for Trade (DG TRADE), 2007. China EU Bilateral Trade and Trade with the World. TRADE H3 SLG/CG/DS.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 o 24 – Bần và gỗ o 261 – Lụa o 263 – Cotton o 264 – Đay và các loại sợi lót dệt khác, chưa được gia công hoặc chưa gia công nhưng chưa xẻ; Xơ và phế liệu của các sợi này (kể cả phế liệu sợi và mảnh vụn) o 265 – Các loại sợi dệt thực vật (trừ bông và đay), nguyên liệu hoặc đã gia công nhưng chưa gia công; Chất thải của các sợi này o 268 – Lông và lông động vật khác (kể cả áo len) o 29 – Vật liệu động vật và thực vật thô o 4 – Dầu động vật, dầu thực vật, chất béo và sáp Theo quan điểm của Việt Nam Hiện tại thì chưa có nguồn luật nào của Việt Nam định nghĩa rõ ràng khái niệm “nông sản”. Tuy vậy theo tiêu chí của Tổng cục Hải quan Việt Nam dùng trong báo cáo thống kê2, những mặt hàng như hàng rau quả, hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, cao su, sắn và sản phẩm từ sắn được tính là mặt hàng nông sản. Tổng hợp lại các quan điểm, có thể hiểu nông sản là “sản phẩm của hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm thành phẩm hoặc bán thành phẩm, thu được từ cây trồng, vật nuôi hoặc sự phát triển của cây trồng, vật nuôi (không bao gồm sản phẩm của ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp)” (Ngô Thị Mỹ, 2016, tr. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng tiêu chí phân loại của DG Trade cho việc thu thập và xử lý dữ liệu về nông sản.
Đặc điểm của nông sản Sản phẩm dễ bị hư, cần được bảo quản Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp có tính chất dễ hư hỏng, nhưng khoảng thời gian hư hỏng là khác nhau giữa các loại nông sản. Một số nông sản hư hỏng trong thời gian ngắn hơn và một số khác vẫn có thể sử dụng được lâu hơn một chút. Cá, sữa, thịt, hoa quả, rau,. vẫn tươi nhưng chỉ trong thời gian ngắn hơn, vì vậy chúng dễ bị hỏng.
Các sản phẩm này phải được cung cấp đến thị trường càng nhanh càng tốt. Cần giữ lạnh đặc biệt để giữ cho hàng hoá đó an toàn và tươi mới. Cây lương 2 Tổng cục Hải quan, 2016. Xuất khẩu nông sản Việt Nam giai đoạn 2012-2016.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thực, ngũ cốc như gạo, lúa mì, mù tạt,. vẫn có thể sử dụng được trong thời gian dài. Tính thời vụ Hầu hết hàng nông sản chỉ được sản xuất trong một số mùa. Các cây lương thực như ngô, lúa, lúa mì; cây lương thực như mía, thuốc lá, đay và rau, khoai tây và trái cây được sản xuất trong một số mùa thích hợp.
Nhưng một số sản phẩm như cá, sản phẩm nhật ký, trứng,. có thể được sản xuất trong tất cả các mùa. Vì vậy, các sản phẩm theo mùa ảnh hưởng đến thị trường nông nghiệp. Sản xuất phân tán Ngoại trừ một số mặt hàng chỉ có thể sản xuất ở vùng đặc biệt, hầu hết hàng hoá nông nghiệp đều được sản xuất ở tất cả các vùng của đất nước.
Khi nông dân sống rải rác ở các vùng khác nhau của đất nước, người trung gian thu thập các sản phẩm nông nghiệp và cung cấp cho thị trường. Cồng kềnh Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp đều có trọng lượng và cồng kềnh. Vì vậy, chi phí vận chuyển và lưu trữ tăng cao hơn giá trị của các sản phẩm này. Đa dạng về số lượng và chất lượng Chất lượng và số lượng nông sản biến đổi theo năng suất đất đai, mùa vụ và khí hậu.
Chất lượng hạt giống, sử dụng phân bón,.cũng gây ra sự khác biệt về chất lượng. Lý thuyết về xuất khẩu nông sản 1. Một số học thuyết về thương mại quốc tế 1. Lý thuyết lợi thế so sánh David Ricardo (1772 – 1823) là đại diện xuất sắc của kinh tế chính trị tư sản cổ điển.
Ông để lại một lý thuyết có tầm ảnh hưởng sâu sắc ở đương thời cũng như còn nguyên giá trị thực tiễn ngày nay, đó là lợi thế so sánh. Lý thuyết này được phát triển dựa trên quan điểm tuyệt đối của Adam Smith. Theo đó, Ricardo nhấn mạnh rằng các nước có lợi thế tuyệt đối so với tất cả các nước khác, hoặc kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất tất cả các sản phẩm, vẫn có thể có lợi từ ngoại thương. Các quốc gia vẫn có thể tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế vì mỗi quốc gia có lợi thế so sánh trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 việc sản xuất một số sản phẩm nhất định.
Bằng cách chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà trong nước có lợi thế so sánh, mức sản lượng và tiêu dùng trên thế giới sẽ tăng lên, dẫn đến mỗi quốc gia được hưởng lợi từ thương mại. Như vậy, lợi thế so sánh là cơ sở để các nước trao đổi thương mại với nhau và là cơ sở cho sự phân công lao động quốc tế. David Ricardo xây dựng lợi thế so sánh dựa trên một số giả thiết: - Phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai loại hàng hoá; - Các yếu tố sản xuất không được dịch chuyển ra bên ngoài; - Công nghệ của hai quốc gia như nhau; - Thị trường cạnh tranh hoàn hảo; - Chi phí sản xuất là cố định; - Chi phí vận chuyển bằng 0; - Toàn dụng nhân công. Ưu điểm - Giải thích được nguyên nhân của thương mại quốc tế; - Giải thích được sự hình thành quan hệ thương mại giữa 2 quốc gia không có bất kỳ lợi thế tuyệt đối nào.
Nhược điểm - Giả thiết sự chuyên môn hóa là hoàn toàn; - Chưa dự đoán được trường hợp xảy ra lợi thế cân bằng. Lợi thế so sánh biểu hiện (RCA) Bela Balassa năm 1965 lần đầu tiên đã đề cập tới “lợi thế so sánh biểu hiện” để đo lường mức độ lợi thế so sánh của sản phẩm này với sản phẩm khác, của nước này với nước khác. Đến nay, RCA được dùng như là một chỉ số dùng để đo lường lợi thế so sánh. Hệ số RCA được xác định bởi công thức: RCA = (EXA/EA):(EXW /EW ) (1.1) Trong đó: EXA: kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của nước A; EA: tổng kim ngạch xuất khẩu nước A; EXW : kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của toàn thế giới; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 EW : tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế giới.
Với RCA > 2,5 sản phẩm có lợi thế so sánh rất cao. Với 1 < RCA < 2,5 sản phẩm có lợi thế so sánh. Với RCA < 1 sản phẩm bất lợi thế so sánh. Lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố Vào đầu thế kỷ 20, hai nhà kinh tế học Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã xây dựng lý thuyết Tân cổ điển về thương mại quốc tế, hay còn được gọi là lý thuyết Heckscher- Ohlin (thuyết H-O).
Thuyết H-O xây dựng dựa trên hai khái niệm cơ bản là hàm lượng các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố. Lý thuyết H-O được xây dựng dựa trên các giả định: - Thế giới gồm 2 quốc gia, 2 yếu tố sản xuất (lao động và vốn), 2 mặt hàng; - Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa các nước; - Sản xuất có lợi thế không đổi theo quy mô, tuy nhiên mỗi yếu tố sản xuất có năng suất cận biên giảm dần; - Hàng hóa có sự khác nhau về hàm lượng yếu tố sản xuất; - Thị trường cạnh tranh hoàn hảo; - Chuyên môn hóa không hoàn toàn; - Các yếu tố sản xuất tự do di chuyển trong quốc gia, nhưng không di chuyển xuyên các nước; - Thương mại tự do, chi phí vận chuyển bằng không. Định lý H-O nêu rằng một quốc gia sẽ sản xuất một mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất mà quốc gia đó dồi dào. Ưu điểm - Giải thích được thương mại quốc tế dựa trên sự thâm dụng các yếu tố sản xuất.
Nhược điểm - Đôi khi không giải thích được thực tiễn xảy ra, như là nghịch lý Leontief. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu nông sản 1. Khái niệm Có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về ngoại thương. Nhưng tổng quát nhất, ngoại thương là hoạt động mua, bán hàng hóa và dịch vụ vượt qua biên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 giới quốc gia.
Biên giới quốc gia ở đây có thể hiểu là biên giới hải quan của một nước hoặc vùng lãnh thổ. “Xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, và nhập khẩu là việc mua hàng hóa dịch vụ của nước ngoài” (Bùi Xuân Lưu và Nguyễn Hữu Khải, 2009, tr. Theo định nghĩa của Investopedia (2016), xuất khẩu hàng hóa là hoạt động thương mại quốc tế trong đó hàng hóa được sản xuất tại một quốc gia sẽ được chuyển tới quốc gia khác nhằm mục đích thương mại. Đổi lại, nước “xuất khẩu” hàng hóa đó sẽ thu về tiền tệ hoặc loại hàng hóa, dịch vụ nào đó.