Tổng quan nghiên cứu

Nông nghiệp và nông thôn giữ vị trí chiến lược đặc biệt trong cơ cấu kinh tế – xã hội của tỉnh Tây Ninh, nơi có diện tích đất sản xuất nông nghiệp đạt 344.297,44 ha, chiếm tới 85,38% tổng diện tích tự nhiên 403.261,42 ha. Dân số sinh sống tại khu vực nông thôn chiếm 84,30% toàn tỉnh, tương đương 923.571 người, với lực lượng lao động nông, lâm, thủy sản chiếm 58,78% tổng số người trong độ tuổi lao động. Mặc dù hệ thống thủy lợi hồ Dầu Tiếng với dung tích hữu ích 1.110 triệu m3 nước đã tạo nền tảng vững chắc cho thâm canh cây trồng, song tốc độ tăng trưởng nông nghiệp của tỉnh vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Tỷ trọng nông – lâm – thủy sản trong cơ cấu tổng sản phẩm nội địa địa phương có chiều hướng suy giảm từ 38,52% năm 2010 xuống còn 31,23% năm 2013, trong khi thu nhập bình quân của người nông dân trên bình diện chung chỉ đạt khoảng 1.400.000 đồng/tháng.

Trước yêu cầu cấp thiết của Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nghiên cứu được thực hiện nhằm nhận diện và định lượng các nhân tố tác động trực tiếp đến thu nhập nông hộ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Đề tài tập trung phân tích sâu thực trạng đời sống của hai cộng đồng dân cư chủ yếu là người Kinh (chiếm 98,31% dân số toàn tỉnh) và người Khmer (chiếm 0,65% dân số toàn tỉnh) tại 4 địa bàn trọng điểm: huyện Tân Biên, huyện Tân Châu, huyện Châu Thành và thành phố Tây Ninh trong giai đoạn 2014–2015. Kết quả phân tích cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn để các cơ quan quản lý ban hành các chính sách an sinh, tín dụng và chuyển giao công nghệ phù hợp, hướng tới mục tiêu thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các nhóm nông hộ và thúc đẩy giảm nghèo bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết kinh tế nông hộ của các học giả kinh tế phát triển, tiêu biểu là quan điểm của Frank Ellis và Đào Thế Tuấn. Theo đó, nông hộ được nhìn nhận là một đơn vị kinh tế cơ sở tích hợp đồng thời hai chức năng sản xuất và tiêu dùng, tham gia vào thị trường với mức độ hoàn thiện chưa cao và phụ thuộc chặt chẽ vào các nguồn lực gia đình. Luận văn tiếp thu khung phân tích sinh kế bền vững và các mô hình thực nghiệm về đa dạng hóa thu nhập nông thôn của Reardon, Escobal, Shrestha và Eiumnod. Các công trình này chỉ ra rằng nguồn thu phi nông nghiệp thường chiếm từ 30% đến 50% tổng thu nhập nông hộ tại các nền kinh tế đang phát triển và chịu ảnh hưởng lớn bởi cơ sở hạ tầng cũng như vị trí địa lý.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 4 khái niệm nền tảng:

  • Nông hộ: Hộ gia đình trực tiếp khai thác nguồn lực đất đai, lao động để phục vụ đời sống và tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm nông thôn.
  • Thu nhập nông nghiệp: Giá trị gia tăng thu được từ hoạt động trồng trọt các cây trồng chủ lực như mía, mì, cao su, mãng cầu và chăn nuôi đại gia súc như bò, trâu, gia cầm.
  • Thu nhập phi nông nghiệp: Các khoản thu phát sinh từ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại, gia công cơ khí hoặc chế biến nông sản tại địa phương.
  • Thu nhập khác: Nguồn thu bổ trợ từ việc làm thuê công nhật, lương cố định từ các cơ quan nhà nước và các khoản trợ cấp an sinh xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo thống kê chính thức của Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, Nghị định 41/2010/NĐ-CP và Quyết định 68/2013/QĐ-TTg.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 199 nông hộ hợp lệ tại 4 địa bàn: Châu Thành, Tân Biên, Tân Châu và thành phố Tây Ninh trong năm 2014. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích nhằm bảo đảm tính đại diện về mặt địa bàn sinh thái và cơ cấu dân tộc, bao gồm 99 hộ dân tộc Kinh và 100 hộ dân tộc Khmer.

Phương pháp xử lý số liệu bao gồm thống kê mô tả và mô hình hồi quy tuyến tính OLS trên phần mềm Stata. Lý do lựa chọn mô hình hồi quy đa biến OLS là nhằm lượng hóa chính xác hệ số tác động biên của từng yếu tố độc lập đến tổng thu nhập bình quân của hộ. Tác giả xây dựng 2 phương trình hồi quy để so sánh: Mô hình 1 xem xét biến trình độ học vấn của chủ hộ, trong khi Mô hình 2 kiểm chứng biến số năm đi học bình quân của tất cả lao động trong hộ. Các kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến và phương sai thay đổi đều được thực hiện nghiêm ngặt để đảm bảo độ tin cậy của các ước lượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thu nhập bình quân của nông hộ trên địa bàn khảo sát đạt 108,57 triệu đồng/hộ/năm, với độ lệch chuẩn là 71,04 triệu đồng. Tuy nhiên, mức độ chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân tộc diễn ra tương đối lớn:

  • Hộ gia đình người Kinh đạt mức thu nhập bình quân 128,30 triệu đồng/hộ/năm, trong khi hộ người Khmer chỉ đạt 89,10 triệu đồng/hộ/năm.
  • Khoảng cách chênh lệch giữa hộ có mức thu nhập cao nhất (500 triệu đồng/năm) và hộ thấp nhất (20 triệu đồng/năm) lên tới 25 lần.

Về cơ cấu kinh tế, khoai mì là cây trồng sinh kế chủ lực khi đóng góp vào thu nhập của 46% tổng số hộ (người Khmer chiếm 62%, người Kinh chiếm 30%), tiếp theo là cây ăn trái chiếm 23,5%, cao su chiếm 21% và chăn nuôi bò chiếm 26,5% (trong đó hộ Khmer chiếm 46%, hộ Kinh chiếm 7%). Hoạt động làm thuê phi nông nghiệp mới chỉ chiếm 6% và hưởng lương nhà nước chiếm 3% tổng số hộ.

Nông hộ đối mặt với nhiều rào cản lớn:

  • Bị thương lái ép giá là khó khăn phổ biến nhất, chiếm 61,5% số hộ phản ánh (người Kinh chiếm 75%, người Khmer chiếm 48%).
  • Chi phí vật tư nông nghiệp đầu vào cao và thiếu vốn sản xuất cùng chiếm tỷ lệ 46,5%.
  • Tình trạng giá nông sản bấp bênh chiếm 42% và đất đai canh tác nhỏ hẹp dưới 1 ha chiếm 46% tổng mẫu điều tra.

Từ kết quả ước lượng Mô hình hồi quy số 2 với hệ số xác định R2 = 0,6603, các yếu tố có ý nghĩa thống kê bao gồm: biến giá nông sản có tác động dương mạnh nhất (hệ số 66,91), tiếp cận chính sách hỗ trợ giúp thu nhập tăng 21,58 triệu đồng, bổ sung thêm 1 lao động chính giúp tăng 22,97 triệu đồng, mở rộng 1 ha đất canh tác giúp tăng 9,71 triệu đồng, và tăng 1 năm đi học bình quân của lao động trong hộ giúp nâng thu nhập thêm 2,54 triệu đồng (đạt mức ý nghĩa 1%).

Thảo luận kết quả

Khi xem xét tương quan học vấn, kết quả hồi quy cho thấy một hiện tượng đáng chú ý: Trong Mô hình 1, số năm đi học của chủ hộ có hệ số âm (-1,38, mức ý nghĩa 10%), nhưng ở Mô hình 2, số năm đi học bình quân của toàn bộ lao động trong hộ lại mang dấu dương rõ rệt (+2,54, mức ý nghĩa 1%). Điều này phản ánh thực tế tại vùng nông thôn Tây Ninh, nơi các chủ hộ cao tuổi thường vận hành canh tác dựa trên kinh nghiệm truyền thống, trong khi những thành viên trẻ tuổi có học vấn cao hơn lại là lực lượng trực tiếp tiếp thu tiến bộ công nghệ, cơ giới hóa và tìm kiếm các kênh thông tin giá cả thị trường hiệu quả.

Sự phân bổ nguồn lực sản xuất giữa hai nhóm dân tộc cho thấy sự bất bình đẳng rõ nét. Dữ liệu khảo sát phản ánh qua bảng phân tích diện tích đất cho thấy 55% hộ Khmer chỉ canh tác trên quy mô dưới 1 ha (so với 37% ở hộ Kinh), đồng thời tỷ lệ chủ hộ mù chữ ở cộng đồng Khmer lên tới 63% (so với 7% ở người Kinh). Về mặt phương tiện sản xuất, phần lớn nông hộ chỉ sở hữu các công cụ giá trị thấp như bình xịt (52,5%) và máy bơm nước (38%), trong khi máy xới đất chỉ đạt 9,5%.

Thực trạng thương lái chi phối đầu ra nông sản với 61,5% hộ bị ép giá cho thấy mối liên kết bốn nhà tại Tây Ninh còn rất lỏng lẻo. Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về tiêu thụ nông sản theo hợp đồng mới chỉ phát huy tác dụng cục bộ trên cây mía đường, trong khi các nông sản thế mạnh khác như khoai mì, mủ cao su và mãng cầu vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào tư thương tự do.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Mở rộng hạn mức tín dụng và đơn giản hóa thủ tục vay vốn thế chấp: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Tây Ninh cần triển khai đồng bộ Nghị định 41/2010/NĐ-CP, nâng mức cho vay tín chấp thông qua các hội đoàn thể từ 50 triệu đồng lên mức tối thiểu 100 triệu đồng/hộ. Đồng thời, kéo dài thời hạn hoàn vốn từ mức trung bình 25 tháng hiện nay lên 36–60 tháng đối với cây công nghiệp và chăn nuôi bò sinh sản, thực hiện liên tục trong giai đoạn 2016–2020.

  2. Đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật và chuẩn hóa quy trình VietGAP: Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tây Ninh chủ trì xây dựng các lớp đào tạo thực hành đồng ruộng, hướng tới mục tiêu tối thiểu 70% nông hộ tiếp cận kỹ thuật bón phân cân đối và quản lý dịch hại tổng hợp. Mục tiêu cụ thể là giảm 15% đến 20% chi phí vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và hạn chế rủi ro mua phải hàng giả, triển khai định kỳ hàng quý tại các xã thuần nông.

  3. Thiết lập chuỗi liên kết bao tiêu nông sản theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Sở Công Thương Tây Ninh hỗ trợ các hợp tác xã ký kết hợp đồng tiêu thụ trực tiếp với các nhà máy chế biến tinh bột mì và doanh nghiệp thu mua trái cây. Phấn đấu nâng tỷ lệ nông sản tiêu thụ qua hợp đồng chính thức từ dưới 10% lên 40% vào năm 2018, giảm thiểu triệt để tình trạng 61,5% nông dân bị thương lái ép giá.

  4. Nâng cao dân trí và đào tạo nghề phi nông nghiệp theo Quyết định 1956/QĐ-TTg: Ủy ban nhân dân các huyện Châu Thành, Tân Biên và Tân Châu cần lồng ghép chương trình xóa mù chữ với đào tạo nghề tiểu thủ công nghiệp, sửa chữa máy móc nông nghiệp cho đồng bào Khmer. Mục tiêu đặt ra là hạ tỷ lệ mù chữ của chủ hộ Khmer từ 63% xuống dưới 20% và nâng tỷ lệ lao động nông thôn tham gia việc làm phi nông nghiệp lên 30% trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan hoạch định chính sách công và cơ quan quản lý nông nghiệp địa phương: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban nhân dân các huyện tại Tây Ninh có thể sử dụng các chỉ số định lượng về đất đai, lao động và học vấn để xây dựng kế hoạch giảm nghèo sát với đặc thù của từng dân tộc.

  2. Các tổ chức tín dụng nông thôn và ngân hàng chính sách: Ngân hàng Chính sách Xã hội và Agribank có cơ sở thực chứng về nhu cầu vốn, kỳ hạn vay và rủi ro tín dụng thực tế của 199 hộ khảo sát để thiết kế các gói sản phẩm vay vốn linh hoạt, giảm phụ thuộc vào tài sản bảo đảm.

  3. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế nông nghiệp và Kinh tế phát triển có thể tham khảo phương pháp tiếp cận mô hình hồi quy đa biến OLS so sánh vai trò của học vấn chủ hộ và học vấn bình quân gia đình để phát triển các đề tài mở rộng.

  4. Ban quản trị hợp tác xã nông nghiệp và doanh nghiệp thu mua nông sản: Các nhà quản lý hợp tác xã có thể nhận diện rõ các điểm nghẽn trong chuỗi cung ứng nông sản địa phương, từ đó chủ động xây dựng phương án liên kết tiêu thụ, chia sẻ rủi ro thị trường cùng nông dân.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nhân tố nào tác động mạnh mẽ nhất đến sự gia tăng thu nhập của nông hộ tại Tây Ninh? Biến giá cả nông sản là nhân tố tác động mạnh nhất trong mô hình hồi quy (hệ số 66,91), tiếp theo là khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ của nhà nước giúp tăng 21,58 triệu đồng/hộ/năm. Khi giá nông sản đầu ra ổn định và chính sách khuyến nông, vốn vay phát huy tác dụng, người nông dân có đủ động lực để tái đầu tư thâm canh mở rộng.

  2. Tại sao có sự chênh lệch thu nhập đáng kể giữa nông hộ người Kinh và người Khmer? Thu nhập bình quân của hộ người Kinh đạt 128,30 triệu đồng/năm, cao hơn mức 89,10 triệu đồng/năm của hộ Khmer. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc 63% chủ hộ Khmer mù chữ, 55% canh tác diện tích nhỏ dưới 1 ha và chủ yếu chăn nuôi bò hoặc trồng mì manh mún, hạn chế khả năng áp dụng kỹ thuật hiện đại.

  3. Nông hộ tại Tây Ninh đang gặp trở ngại lớn nhất nào trong khâu tiêu thụ sản phẩm? Khó khăn lớn nhất là bị thương lái ép giá, chiếm 61,5% số hộ được phỏng vấn. Tình trạng này xuất phát từ việc thiếu liên kết doanh nghiệp, sản phẩm chưa đạt chuẩn chất lượng đồng đều (28%) và nông hộ thiếu phương tiện vận chuyển (17,5%), dẫn đến việc phải bán trực tiếp tại ruộng với giá thấp.

  4. Quy mô đất canh tác đóng vai trò như thế nào đối với mức sống của nông hộ? Mỗi hecta đất sản xuất tăng thêm giúp thu nhập hộ gia đình tăng tương ứng 9,71 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, 46% nông hộ tại địa bàn nghiên cứu chỉ có diện tích canh tác từ 1 ha trở xuống, tạo ra rào cản lớn cho việc cơ giới hóa và tích tụ ruộng đất quy mô lớn.

  5. Hoạt động phi nông nghiệp có ý nghĩa ra sao đối với kinh tế nông thôn Tây Ninh? Mô hình hồi quy cho thấy mỗi nguồn thu nhập phi nông nghiệp gia tăng giúp cải thiện thu nhập bình quân của hộ thêm từ 4,21 đến 5,55 triệu đồng/năm. Dù vậy, hiện tại mới chỉ có khoảng 6% số hộ có thu nhập từ làm thuê phi nông nghiệp, cho thấy tiềm năng phát triển ngành nghề nông thôn còn rất lớn.

Kết luận

  • Thu nhập bình quân của nông hộ tại Tây Ninh đạt 108,57 triệu đồng/năm nhưng tồn tại khoảng cách chênh lệch giàu nghèo lên tới 25 lần giữa các hộ khảo sát.
  • Các nhân tố có tác động tích cực và mang ý nghĩa thống kê cao đến thu nhập bao gồm: Giá nông sản, số lao động chính trong hộ, tiếp cận chính sách công, diện tích đất canh tác và trình độ học vấn bình quân của lao động.
  • Khoai mì (46%) và chăn nuôi bò (26,5%) là hai trụ cột sinh kế quan trọng nhất nhưng đang đối mặt với nguy cơ suy giảm lợi nhuận do 61,5% hộ bị thương lái ép giá và 46,5% hộ chịu gánh nặng chi phí vật tư tăng cao.
  • Nông hộ dân tộc Khmer chịu nhiều thiệt thòi về nguồn lực phát triển với 63% chủ hộ không biết chữ và 55% sở hữu đất đai dưới 1 ha.
  • Việc nâng cao thu nhập nông thôn đòi hỏi phải đồng bộ hóa chính sách tín dụng ưu đãi, đẩy mạnh liên kết bốn nhà và nâng cấp hệ thống khuyến nông giai đoạn 2016–2020.

Luận văn đã đóng góp một hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và khung lượng hóa tin cậy về kinh tế nông hộ tại vùng biên giới Tây Ninh, mở ra cơ sở khoa học vững chắc cho việc thiết kế các can thiệp chính sách công bình đẳng giới và dân tộc. Các cấp chính quyền, nhà khoa học và tổ chức phát triển nông thôn cần khẩn trương phối hợp triển khai các giải pháp liên kết chuỗi giá trị nhằm nâng cao thu nhập bền vững cho người nông dân.