Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE PHAT TRIEN ING NGHIEP BEN VUNG 1. Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững. Phát triển nông nghiệp bền vững là vấn đề trung tâm của nhiều nước trên thế giới và nhất là các nước đang phát triển. Để tiếp cận đúng đắn với sự phát triển nông nghiệp bền vững cần thiết phải nhận thức đủ về phát triển, tăng trưởng và phát triển bền vững.
Tăng trưởng, phát triển và phát triển bền vững 1 L. Tăng trưởng và phát triên Tăng trưởng và phát triển đôi khi được coi là đồng nghĩa, nhưng thực ra nó có liên quan với nhau và có những nội dung khác nhau. Theo nghĩa chung nhất, tăng trưởng là nhiều sản phẩm hơn, còn phát triển không những nhiều sản phẩm hơn mà còn phong phú hơn về chủng loại và chất lượng, phù hợp về cơ cấu và phân bố của cải. Tăng trưởng được đánh giá bằng tỷ lệ tăng thu nhập quốc dân (GNP) và sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm.
Sự phát triển được đánh giá không những chỉ bằng GNP hoạc GDP tính bình quân trên đầu người dân mà còn bằng một số chỉ tiêu phản ánh sự tiền bộ xã hội như: cơ hội về giáo dục, nâng cao sức khỏe cộng đồng, tinh trạng dinh dưỡng, nâng cao giá trị cuộc sống, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Phát triển bền vững Phát triển bền vững là một khái niệm mới nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môi trường, cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống. Trên thực tế, khái niệm phát triển bền vững đang có mặt trên đầu đề các tạp trí Môi trường, giành vị trí quan trọng trên 8.000 trang web và liên quan đến tham vọng của vô số các chương trình, các khu vực, và các tổ chức. Có tới 70 định nghĩa được sử dụng để giải thích, định hướng, xây dựng chỉ đo.
về “Phát triển bền vững”, để đi tới sự dung hòa trong nhận thức về khái niệm “Phát triển bền vững” là cả một chuỗi các vấn đề mang tính chính trị: kinh tế; xã hội; tự nhiên nhất định. Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triển bền vững; nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế. Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission and Environment and Development, WCED) thì “phát bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không lam ton hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”. Phát triển bền vững là một mô hình chuyên đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai (Gôdian và hecdue, 1988, GS.
Hơn 10 năm qua, các nhà khoa học - trên các lĩnh vực và diễn đàn khác nhau khắp nơi trên hành tinh này, đều đi đến một sự thống nhất có tính tương đt bản chất và khía cạnh hiện thực của phát t bên vững. Các móc thời gian của phát triển bền vững: Tháng4 năm 1968: Tổ chức The Club of Rome được sáng lập, đây là một tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho việc nghiên cứu "Những vấn đề của thế giới" - một cụm từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và công nghệ trên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài Tổ chức này đã tập hợp những nhà khoa học, nhà nhiên cứu, nhà kinh doanh cũng như các nhà lãnh đão của các quốc gia trên thế giới. Trong nhiều năm, The Club of Rome đã công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáo The Limits to Growth (Giới hạn của sự tăng trưởng) - được xuất bản năm 1972 đề cập tới hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên. Tháng 6 năm 1972: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môi trường được tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường.
Một trong những kết quả của hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc cũng được thành lập. Năm 1984: Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem Brundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and Development - WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland. Tới nay, ủy ban này đã được ghi nhận có những cống hiến rất giá trị cho việc đây mạnh sự phát triển bền vững.
Theo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật. Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tổ xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ. Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững.
Năm 1987: Thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụng trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc đề xuắt, cùng với sự trợ giúp cla UNESCO và FAO đầu thập niên 80. Tuy nhí , khái niệm này chính thức phô biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundrland (1987). Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở nên nóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề "Tương lai của chúng ta" (tiếng Anh: Our Common Futur và tiếng Pháp là Notre avenir à tous, ngoài ra còn thường được gọi là Báo cáo Brundtland). Ban báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ "phát triển bền vững", sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài.
Ké tir sau báo cáo Brundtland, khái niệm bền vững trở thành khái niệm chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề trong phát triển. Đây cũng được xem là giai đoạn mở đường cho "Hội thảo về phát triển và môi trường của Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầu hoá được tổ chức tại Rio de Janeiro (1992), và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại Johannesburg (2002). Năm 1989: Sự phát hành và tầm quan trọng của Our Common Future đã được đưa ra bàn bạc tại Đại hội đồng Liên Hiệp quốc và đã dẫn đến sự ra đời của Nghị quyết 44/228 - tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc. Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED).
Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị su 21 (Agenda 21). Véi sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tô chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển cũng như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung của hiệp định về sự biến đồi khí hậu, tuyên bố nguyên tắc quản lý, bảo tồn rừng. Năm 2002: Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên. Những mục tiêu này bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển. Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005. Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự án VIE/01/021 "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam" bắt đầu vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện Vietnam Agenda 21. Phát triển nông nghiệp bền vững Nông nghiệp bền vững là vấn dé thời sự được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm, như: nông học, sinh thái học, xã hội học.Trong nông nghiệp, cùng những tiến bộ thâm canh tăng năng sĩ cây trồng đã dẫn tới tình trạng lạm dụng phân hóa học và các chất độc trừ sâu bệnh, trừ cỏ đã làm hỏng cấu tượng và nhiễm độc đất, làm ô nhiễm môi 10 trường, ô nhiễm nguồn nước.
Việc công nghiệp hóa nông nghiệp theo mục đích thu lợi nhuận tối đa của các tập đoàn tư bản siêu quốc gia đã làm phá sản hàng triệu nông dân nghèo. Theo kết quả đánh giá của Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc, 12 tỷ hecta - gần 11% diện tích đắt trồng trọt của thế giới đang bị thoái hóa ở mức trung bình hoặc tram trọng. Khoảng 950 triệu ha đất bị nhiễm mặn, cuối thập kỷ 80 hàng năm có từ 17 đến 20 triệu hecta rừng bị tàn phá. Thách thức về nông nghiệp đang đặt ra là làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu lương thực của nhân loại nhất là đối với các nước đang phát triển.