Chương 1 trình bày tổng quát sự cần thiết và lí do chọn đề tài, nội dung mục tiêu, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả trình bày những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và rút ra những điểm mới 8 trong nghiên cứu riêng biệt về các yếu tố tác động đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 2. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.
Khái niệm Khái niệm đầu tư đầu tư trực tiếp nước ngoài được trình bày trong nhiều nghiên cứu khác nhau. Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Moneytary Fund), đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một khoản đầu tư được thực hiện để thu lợi ích lâu dài trong doanh nghiệp hoạt động ở một số nền kinh tế khác với nền kinh tế cuả nhà đầu tư, ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư còn mong muốn giành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường. Theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển UNCTAD (1999), FDI là hoạt động đầu tư có mối liên hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và sự kiểm soát lâu dài cuả nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ đối với doanh nghiệp cuả mình ở một nền kinh tế khác. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (1999), FDI phản ánh lợi ích lâu dài mà một thực thể trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc nước của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp).
Lợi ích này thể hiện các mối quan hệ giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp, trong đó nhà đầu tư giành được sự ảnh hưởng quan trọng và có hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp, nắm quyền kiểm soát từ 10% vốn trở lên. Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đưa ra định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Theo khái niệm của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: Đầu tư 10 trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính Phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp Liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này. Theo quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 điều 2, Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2000 “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”. Theo Luật đầu tư năm 2005 (điều 3), đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo qui định của luật và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình đầu tư quốc tế, trong đó nhà đầu tư của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế khác. Đặc điểm FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của pháp luật từng nước để giành quyền quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, làm căn cứ để phân chia lợi nhuận và rủi ro.
Thu nhập chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư về hình thức, lĩnh vực, thị trường và quy mô 11 đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động. Hình thức Căn cứ vào tính chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân loại như sau (Võ Thanh Thu và Ngô Thị Ngọc Huyền, 2008): - Theo tính chất sở hữu và quản lý: Liên doanh (Joint Venture Enterprise): là một hình thức hợp tác đầu tư giữa hai hay nhiều doanh nghiệp độc lập bằng cách cùng nhau thành lập, quản lý và đồng sở hữu một doanh nghiệp độc lập khác. Quyền kiểm soát liên doanh phụ thuộc vào phần hùn vốn của mỗi bên trong vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual Business Corporation): là hình thức hai bên hoặc nhiều bên thoả thuận hợp tác kinh doanh mà không cần lập ra pháp nhân mới tại nước tiếp nhận đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% Foreign Capital Enterprise): là một công ty con do doanh nghiệp thành lập ở nước ngoài, sở hữu 100% vốn và nắm toàn quyền kiểm soát. - Theo cách thức thực hiện đầu tư: Đầu tư mới (GI – Greenfield Investment): Các nhà đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài bằng cách xây dựng các doanh nghiệp mới. Đầu tư mở rộng: thông qua tăng vốn để mở rộng cơ sở kinh doanh hiện hữu ở hải ngoại.
Đầu tư thông qua mua cổ phiếu: để trở thành cổ đông chiến lược của các công ty ở nước tiếp nhận đầu tư. Sáp nhận và mua lại (M&A – Mergers and Acquisitions): Các nhà đầu tư tiến hành đầu tư bằng cách mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. - Theo lĩnh vực đầu tư: Đầu tư theo chiều ngang (HI – Horizontal Investment): là việc chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào cùng một ngành, một lĩnh vực hoạt động sản xuất 12 kinh doanh tương tự như họ đang thực hiện trong nước mình. Đầu tư theo chiều dọc (VI – Vertical Investment): là việc chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào ngành hay lĩnh vực sẽ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho cơ sở sản xuất trong nước của họ (backward vertical FDI) hoặc vào ngành hay lĩnh vực sẽ sử dụng sản phẩm của cơ sở sản xuất trong nước của họ (forward vertical FDI).
- Theo động cơ của nhà đầu tư: FDI tìm kiếm nguồn lực từ nước ngoài: đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên (Đất đai, tài nguyên thiên nhiên, dầu mỏ, khí đốt; đất hiếm, nguồn nước,…) và tìm kiếm lao động giá thấp hoặc có chuyên môn nhằm mục đích khai thác lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư. FDI chiếm lĩnh thị trường: là hoạt động đầu tư nhằm sản xuất ra các sản phẩm thích ứng với thị hiếu và nhu cầu tại chỗ cũng như để sử dụng nguyên liệu tại nước tiếp nhận đầu tư, ngoài ra với hoạt động đầu tư FDI cho phép nhà đầu tư tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch thuế quan và phi thuế quan lập ra càng nhiều và ngày càng tinh vi ở nước nhập khẩu nếu họ thâm nhập qua con đường thương mại. Mục tiêu của loại đầu tư này là nhằm chiếm lĩnh thị trường. FDI nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư: là các hoạt động đầu tư nhằm khai thác các lợi thế của các quốc gia khác giúp giảm chi phí kinh doanh, tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư.
FDI còn giúp các nhà đầu tư phân tán rủi ro, trong đó có rủi ro về chính trị và xã hội trong nước bất ổn. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Tác động tích cực Đầu tư trực tiếp nước ngoài làm tăng lượng tiền và tài sản trong nền kinh tế của nước tiếp nhận, do đó cải thiện cán cân về vốn nói riêng và ổn định cán cân thanh toán thông qua hoạt động xuất khẩu. FDI tạo khả năng khai thác có hiệu quả nguồn lực phát triển, đặc biệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực và thị trường, góp phần tăng năng lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu và mở 13 rộng thị trường.
Một trong những khía cạnh quan trọng của FDI là tác động đến sản lượng, do đó thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế tại nước tiếp nhận đầu tư. Sự tác động này cũng phụ thuộc nhiều vào chính sách vĩ mô của nước tiếp nhận. Moosa (2002), FDI có thể ảnh hưởng đến sản lượng nước sở tại nếu nó hấp thụ các nguồn tài nguyên dư thừa hoặc cải thiện chúng một cách hiệu quả thông qua việc thay đổi phân bổ các lựa chọn. Nghiên cứu của Grossman và Helpman (1991), nghiên cứu của Hermes và Lensink (2003) đều chỉ ra rằng FDI đóng vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế ở nước tiếp nhận đầu tư.
Andrea Johnson (2005) trong nghiên cứu về sự tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế, kết luận FDI tác động đến nước tiếp nhận, đặc biệt là nhóm các nước đang phát triển chủ yếu qua hình thức vốn vật chất và công nghệ, trong đó, công nghệ là yếu tố chủ yếu. FDI còn giúp nước tiếp nhận đầu tư chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và đổi mới tư duy phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng. Moosa (2002) cho rằng: “FDI di chuyển vào các nhành góp phần phát triển các ngành có lợi thế so sánh, các ngành có lợi nhuận cao và có khả năng cạnh tranh cao”.