Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp gia công hàng hóa tại cục hải quan tỉnh long an

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp gia công hàng hóa tại cục hải, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2016

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.1.1. Mục tiêu chung

1.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.3.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.1. Hàng gia công

2.2. Quy trình thủ tục hải quan hàng nhập gia công

2.2.1. Khái niệm quy trình thủ tục hải quan

2.2.2. Quy trình thủ tục hải quan hàng nhập gia công

2.3. Khái niệm dịch vụ

2.4. Đặc điểm của dịch vụ

2.5. Chất lượng dịch vụ

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng doanh nghiệp gia công

Sự hài lòng của doanh nghiệp gia công hàng hóa là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ hải quan. Nghiên cứu này sẽ phân tích các nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những giải pháp cải thiện. Các yếu tố này bao gồm chất lượng dịch vụ, thái độ phục vụ, và thời gian giao hàng. Theo nghiên cứu của Dương Hải Bằng (2016), sự hài lòng của khách hàng không chỉ phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ mà còn vào các yếu tố khác như giá cả cạnh tranh và sự minh bạch trong giao dịch.

1.1. Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng

Chất lượng dịch vụ là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp gia công. Theo mô hình SERVQUAL, chất lượng dịch vụ được đánh giá qua năm yếu tố: độ tin cậy, sự đáp ứng, sự đảm bảo, sự đồng cảm và sự hữu hình. Doanh nghiệp cần cải thiện các yếu tố này để nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

1.2. Thái độ phục vụ và ảnh hưởng đến sự hài lòng

Thái độ phục vụ của nhân viên hải quan có ảnh hưởng lớn đến sự hài lòng của doanh nghiệp. Một thái độ phục vụ tích cực, chuyên nghiệp sẽ tạo ra ấn tượng tốt và làm tăng sự hài lòng của khách hàng. Nghiên cứu cho thấy rằng sự đồng cảm và sự tin cậy từ phía nhân viên hải quan là những yếu tố then chốt trong việc xây dựng mối quan hệ tốt với doanh nghiệp.

II. Vấn đề và thách thức trong việc nâng cao sự hài lòng doanh nghiệp gia công

Mặc dù có nhiều nỗ lực để cải thiện chất lượng dịch vụ, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức trong việc nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp gia công. Các vấn đề này bao gồm quy trình thủ tục hải quan phức tạp, thời gian giao hàng kéo dài và sự thiếu minh bạch trong các quy định. Theo báo cáo của Cục Hải quan tỉnh Long An, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc thực hiện các thủ tục hải quan do sự phức tạp của quy trình.

2.1. Quy trình thủ tục hải quan phức tạp

Quy trình thủ tục hải quan hiện tại vẫn còn nhiều bước phức tạp, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện. Việc cải cách quy trình này là cần thiết để giảm thiểu thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để đơn giản hóa quy trình.

2.2. Thời gian giao hàng và ảnh hưởng đến sự hài lòng

Thời gian giao hàng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng thời gian giao hàng kéo dài có thể dẫn đến sự không hài lòng và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cần có các biện pháp cải thiện thời gian giao hàng để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.

III. Phương pháp cải thiện sự hài lòng doanh nghiệp gia công hiệu quả

Để nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp gia công, cần áp dụng các phương pháp cải thiện chất lượng dịch vụ và quy trình thủ tục hải quan. Các phương pháp này bao gồm đào tạo nhân viên, cải cách quy trình và áp dụng công nghệ thông tin. Theo Dương Hải Bằng (2016), việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hải quan có thể giúp giảm thiểu thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

3.1. Đào tạo nhân viên và nâng cao chất lượng phục vụ

Đào tạo nhân viên là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng phục vụ. Nhân viên cần được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Việc tổ chức các khóa đào tạo định kỳ sẽ giúp nâng cao năng lực phục vụ của nhân viên hải quan.

3.2. Cải cách quy trình thủ tục hải quan

Cải cách quy trình thủ tục hải quan là cần thiết để giảm thiểu thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Cần xem xét lại các bước trong quy trình và loại bỏ những bước không cần thiết. Việc này không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao sự hài lòng của họ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về sự hài lòng doanh nghiệp gia công

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hài lòng của doanh nghiệp gia công hàng hóa tại Cục Hải quan tỉnh Long An phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chất lượng dịch vụ và thái độ phục vụ là hai yếu tố quan trọng nhất. Các doanh nghiệp cần được khảo sát thường xuyên để nắm bắt được mức độ hài lòng và những vấn đề họ gặp phải.

4.1. Kết quả khảo sát sự hài lòng của doanh nghiệp

Kết quả khảo sát cho thấy rằng khoảng 70% doanh nghiệp hài lòng với chất lượng dịch vụ hải quan. Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ doanh nghiệp cho rằng quy trình thủ tục còn phức tạp và cần cải thiện. Việc thu thập ý kiến từ doanh nghiệp sẽ giúp cơ quan hải quan có những điều chỉnh kịp thời.

4.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hải quan

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hải quan đã giúp cải thiện đáng kể quy trình thủ tục. Các hệ thống quản lý hiện đại giúp giảm thiểu thời gian xử lý và nâng cao độ chính xác trong các giao dịch. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao sự hài lòng của họ.

V. Kết luận và tương lai của sự hài lòng doanh nghiệp gia công

Sự hài lòng của doanh nghiệp gia công hàng hóa là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Cục Hải quan tỉnh Long An. Cần có những giải pháp đồng bộ để cải thiện chất lượng dịch vụ và quy trình thủ tục hải quan. Tương lai, việc áp dụng công nghệ thông tin và cải cách quy trình sẽ là những yếu tố quyết định đến sự hài lòng của doanh nghiệp.

5.1. Tương lai của sự hài lòng doanh nghiệp gia công

Tương lai của sự hài lòng doanh nghiệp gia công phụ thuộc vào khả năng cải cách và đổi mới của Cục Hải quan. Cần có những chính sách rõ ràng và cụ thể để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Việc lắng nghe ý kiến từ doanh nghiệp sẽ giúp cơ quan hải quan có những điều chỉnh kịp thời.

5.2. Đề xuất chính sách nâng cao sự hài lòng

Đề xuất chính sách cần tập trung vào việc cải cách quy trình thủ tục, nâng cao chất lượng dịch vụ và đào tạo nhân viên. Các chính sách này sẽ giúp nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp gia công hàng hóa tại cục hải quan tỉnh long an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Chương 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Hàng gia công Gia công quốc tế là phương thức giao dịch trong đó người đặt gia công cung cấp nguyên liệu, định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật.

Bên nhận gia công tổ chức sản xuất sau đó giao lại sản phẩm và nhận được một khoản tiền công tương đương với lượng lao động hao phí để làm ra sản phẩm đó gọi là phí gia công. Gia công quốc tế là hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với sản xuất. Gia công thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao (Quốc hội Việt Nam, 2005). Quy trình thủ tục hải quan hàng nhập gia công 2.

Khái niệm quy trình thủ tục hải quan Theo Công ước quốc tế về Đơn giản và Hài hòa thủ tục hải quan (còn gọi là Công ước Kyoto) có hiệu lực từ năm 1974, bản sửa đổi, bổ sung được Hội đồng Tổ chức Hải quan thế giới WCO phê chuẩn vào tháng 6 năm 1999 và có hiệu lực vào ngày 3/2/2006, thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động tác nghiệp mà bên hữu quan và bên hải quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hải quan. Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với hàng hoá, phương tiện vận tải (Quốc hội Việt Nam, 2014). Như vậy, thủ tục hải quan có thể hiểu là trình tự các bước công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật khi thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Quy trình thủ tục hải quan là trình tự các bước công việc mà công chức hải quan phải thực hiện để thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu theo quy định của cơ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 quan Nhà nước có thẩm quyền.

Quy trình thủ tục hải quan thường được ban hành kèm theo bởi một quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Bộ Tài chính Việt Nam, 2015). Tuỳ thuộc vào trình độ quản lý cũng như tình hình phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế trong từng thời kỳ mà các quy trình thủ tục hải quan cũng được xây dựng khác nhau. Đồng thời qua thực tiễn áp dụng, các quy trình thủ tục này sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của các hoạt động xuất nhập khẩu, đáp ứng được yêu cầu quản lý của cơ quan hải quan. Quy trình thủ tục hải quan hàng nhập gia công Theo Bộ Tài chính Việt Nam (2015), quy trình thủ tục hải quan hàng nhập gia công bao gồm các bước sau: Một là, tiếp nhận hợp đồng gia công: Cơ quan Hải quan tiếp nhận hồ sơ thông báo hợp đồng gia công theo quy định, kiểm tra điều kiện được nhận gia công, nếu đáp ứng được quy định thì kiểm tra sự đồng bộ, đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ thông báo hợp đồng gia công do thương nhân nộp, xuất trình; Kiểm tra cơ sở sản xuất, nếu đủ điều kiện thì tiếp nhận hợp đồng gia công.

Hai là, thủ tục tiếp nhận bảng thông báo mã nguyên liệu, vật tư: Địa điểm tiếp nhận thông báo mã nguyên liệu, vật tư là tại Chi cục Hải quan nơi tiếp nhận hợp đồng gia công; Thời điểm tiếp nhận thông báo mã nguyên liệu, vật tư: trước hoặc cùng thời điểm làm thủ tục nhập khẩu nguyên liệu, vật tư. Nếu có phát sinh mã nguyên liệu, vật liệu mới thì thương nhân thông báo bổ sung cho cơ quan Hải quan; Thủ tục tiếp nhận thông báo mã nguyên liệu, vật tư: Việc xác định mã nguyên liệu, vật tư thực hiện theo nguyên tắc vừa đủ đáp ứng yêu cầu theo dõi, thanh khoản hợp đồng gia công được chính xác, không gộp nguyên liệu chính vào một mã nguyên liệu, phụ liệu vào một mã vật liệu. Ba là, thủ tục nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để gia công: thực hiện quy trình đối với hàng hóa nhập khẩu thương mại. Ngoài ra, công chức Hải quan còn phải: Thống kê tờ khai nhập khẩu, lấy mẫu nguyên liệu và nhập máy số liệu của tờ khai nhập khẩu.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Bốn là, Thủ tục tiếp nhận thông báo, điều chỉnh định mức và kiểm tra định mức: Việc tiếp nhận thông báo điều chỉnh định mức và kiểm tra định mức do công chức Hải quan tiến hành tại Chi cục Hải quan nơi quản lý hợp đồng gia công từ khi: Tiếp nhận thông báo định mức, điều chỉnh định mức đến kiểm tra định mức. Năm là, Thủ tục xuất khẩu sản phẩm gia công: được thực hiện theo quy trình đối với hàng hóa xuất khẩu thương mại, trừ việc kiểm tra tính thuế. Sau đó công chức Hải quan đăng ký tờ khai nhập máy, tiến hành kiểm tra thực tế (nếu có). Sáu là, thủ tục chuyển nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị thuê mượn sang hợp đồng gia công khác trong quá trình thực hiện hợp đồng gia công.

Bảy là, Thủ tục thanh khoản hợp đồng gia công. Khái niệm dịch vụ Theo Mathe và Shapiro (1993): “Dịch vụ là những hoạt động mang tính liên tục nhằm cung cấp những giá trị cho khách hàng trong thời gian dài và được đánh giá bằng cách gia tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng đối với những sản phẩm hay những chuỗi sản phẩm”. Định nghĩa về dịch vụ của Phillip Kotler (2003) là định nghĩa khá tổng quát và hoàn chỉnh: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”.

Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có một số đặc tính cơ bản bao gồm: vô hình (intangibility), không tách rời (inseparability), không đồng nhất (heterogeneity), và tính không lưu trữ (perishability) (Parasuraman, A. Tính vô hình (intangibility): Các dịch vụ được xem là sản phẩm vô hình. Không giống những sản phẩm vật chất khác, người sử dụng dịch vụ không thể nhìn thấy, cân, đo, đong, đếm, thử nghiệm, kiểm tra chất lượng trước khi mua, do vậy họ thường tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ thông qua TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu thông tin, biểu tượng… mà họ cảm nhận. Về phía công ty lại rất khó khăn trong việc tìm hiểu khách hàng nhận thức như thế nào về dịch vụ và chất lượng dịch vụ đó.

Khi doanh nghiệp tham gia dịch vụ thì họ cũng không biết chắc trước họ sẽ nhận được dịch vụ với chất lượng như thế nào. Vì vậy nhiệm vụ của nhà cung ứng dịch vụ là phải “vận dụng tất cả những bằng chứng” để “làm cho cái vô hình trở thành cái hữu hình” (Phillip Kotler, (2003)), hay nói cách khác là làm cho khách hàng cảm nhận được chất lượng dịch vụ của mình. Tính không thể tách rời (inseparability): Dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời hay quá trình tạo dịch vụ cũng là quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ. Khách hàng cùng tham gia vào quá trình tạo và cung cấp dịch vụ, nên sự tương tác giữa bên cung cấp dịch vụ và khách hàng là một đặc tính của kinh doanh dịch vụ, điều này có ảnh hưởng tới kết quả dịch vụ.

Tính không đồng nhất (heterogeneity): Các dịch vụ được cung cấp không đồng nhất vì phụ thuộc nhiều vào người thực hiện, thời gian, địa điểm và cách thức cung cấp dịch vụ đó. Dịch vụ thường được sửa đổi để phù hợp cho mỗi khách hàng hay cho mỗi tình huống mới. Việc sản xuất hàng loạt rất khó đối với dịch vụ. Điều này có thể được xem là chất lượng không đồng nhất.

Tính không lưu trữ (perishability): Dịch vụ không thể được cất giữ rồi sau đó mang ra sử dụng vì quá trình tạo thành và sử dụng dịch vụ xảy ra đồng thời. Một dịch vụ sẽ biến mất nếu ta không sử dụng vào thời điểm nó được thực hiện. Sau khi một dịch vụ được thực hiện xong, không một phần nào của dịch vụ có thể phục hồi lại được. Nói cách khác, dịch vụ nhạy cảm hơn những hàng hóa thông thường trước những thay đổi và sự đa dạng của nhu cầu.

Chất lượng dịch vụ Do những đặc tính của dịch vụ như trên, chất lượng dịch vụ rất khó định nghĩa và đo lường so với sản phẩm hữu hình. Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng đưa ra một số định nghĩa và cách đo lường chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, do đặc thù của ngành dịch vụ là chất lượng dịch vụ được thể hiện trong quá trình tương tác giữa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 nhân viên công ty dịch vụ và khách hàng nên không dễ dàng đánh giá được chất lượng của quá trình này. Edward Deming, trích dẫn bởi Nguyễn Minh Đình, Nguyễn Trung Tín, Phạm Phương Hoa (1996) thì “Chất lượng là tập hợp những đặc tính có thể đo lường được của sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu của khách hàng tại mức chi phí được thị trường chấp nhận”.

Lehtinen & Lehtinen (1982) cho rằng: chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Gronroos (1984) cho rằng chất lượng dịch vụ gồm hai yếu tố là: (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng. Trong đó chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ, còn chất lượng chức năng cho biết chúng được phục vụ như thế nào.Juran (1995) cho rằng: “Chất lượng là sự phù hợp khi sử dụng, điều này do người sử dụng đánh giá”. Theo Yuksel Ekinsi (2002): “Chất lượng là làm đúng việc phải làm ngay từ đầu và càng ngày càng tốt hơn”.

Tuy nhiên, mỗi khách hàng đều có nhận thức và nhu cầu khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau. Do đó, việc tham gia của khách hàng vào quá trình phát triển và đánh giá chất lượng dịch vụ là rất quan trọng. Vì thế, chất lượng dịch vụ theo Parasuraman, A. (1985) là chất lượng dịch vụ được định nghĩa dựa trên mức độ nhận thức của khách hàng về mức độ đáp ứng của dịch vụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ