CHƯƠNG 1 Trong chương này tác giả trình bày khái quát các nghiên cứu trong nước và thế giới về đo lường sự hài lòng của người sử dụng, các nhân tố tác động đến hệ thống thông tin, hệ thống thông tin kế toán. Trên cơ sở đó xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng có rất nhiều nhân tố tác động đến sự hài lòng của người sử dụng tùy theo quan điểm và cách nhìn nhận của nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng lại một phần mô hình hệ thống thông tin thành công cập nhật của Delone và McLean (2003) trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam cụ thể là các doanh nghiệp tại Tp.
Mô hình gốc gồm 6 nhân tố là: (1) chất lượng hệ thống, (2) chất lượng thông tin, (3) chất lượng dịch vụ, (4) sử dụng/ ý định sử dụng, (5) sự hài lòng của người sử dụng và (6) lợi ích ròng. Tuy nhiên, đứng trên góc người sử dụng cá nhân, tác giả chỉ xem xét tác động của các nhân tố: chất lượng hệ thống chất lượng thông tin, chất lượng dịch vụ và lợi ích ròng đến hài lòng của người sử dụng. Ngoài ra, để phù hợp với bối cảnh nghiên cứu, trong luận văn này tác giả không sử dụng nhân tố sử dụng/ ý định sử dụng và thay thế nhân tố lợi ích ròng bằng nhân tố lợi ích cá nhân kế thừa từ nhân tố tác động cá nhân trong mô hình hệ thống thông tin thành công của Delone và McLean (1992) và nhân tố cảm nhận về tính hữu ích trong mô hình Seddon (1997). Chương này cũng trình bày điểm khác biệt của đề tài, đó chính là bổ sung thêm vào mô hình nhân tố văn hóa tổ chức và trong nghiên cứu này mô hình hệ thống thông tin kế toán thành công được xem xét chỉ dựa trên quan điểm của người sử dụng hệ thống thông tin kế toán và người sử dụng thông tin kế toán.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là kết hợp giữa định tính và định lượng sẽ mang lại giá trị về mặc thực tiễn và độ tin cậy. 123doc 15 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 1 đã trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây về sự hài lòng của người sử dụng và các nhân tố tác động đến sự hài lòng của người sử dụng hệ thống thông tin kế toán. Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về hệ thống thông tin kế toán và sự hài lòng của người sử dụng hệ thống cũng như các nhân tố tác động đến nó.
Trên cơ sở đó, tác giả sẽ xác định thế nào là sự hài lòng của người sử dụng hệ thống thông tin kế toán và nhận diện thang đo đo lường sự hài lòng của người sử dụng hệ thống thông tin kế toán cũng như các nhân tố tác động đến sự hài lòng của người sử dụng hệ thống thông tin kế toán và xây dựng khái niệm, mô hình nghiên cứu.1 Hệ thống thông tin kế toán 2.1 Hệ thống thông tin Theo Gelinas và cộng sự (2012), hệ thống thông tin là hệ thống do con người tạo ra bao gồm một tập hợp các thành phần dựa trên máy tính và các thành phần thủ công để thu thập, lưu trữ, quản lý dữ liệu và cung cấp thông tin đầu ra cho người dùng. Các thành phần chức năng của một hệ thống thông tin: Đầu vào: là các nội dung cần thiết thu thập và các phương thức thu thập dữ liệu. Xử lý: là các quá trình, bộ phận thực hiện hoạt động xử lý các nội dung dữ liệu đầu vào đã thu thập như: phân tích, tổng hợp, tính toán, ghi chép, xác nhận. để làm biến đổi tính chất, nội dung của dữ liệu tạo ra thông tin theo yêu cầu.
Lưu trữ: lưu trữ các nội dung dữ liệu đầu vào hoặc thông tin tạo ra của quá trình xử lý để phục vụ cho quá trình này và cung cấp thông tin về sau. Đầu ra: nội dung của thông tin và phương thức cung cấp thông tin được tạo ra từ hệ thống cho các đối tượng sử dụng.2 Hệ thống thông tin kế toán Hệ thống thông tin kế toán thu thập, ghi nhận, lưu trữ và xử lý dữ liệu kế toán và các dữ liệu liên quan khác để tạo ra những thông tin kế toán hữu ích phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát, phối hợp, phân tích và ra quyết định (Romney và 123doc 16 Steinbart, 2012). Như vậy, hệ thống thông tin kế toán thực hiện hai chức năng cơ bản: chức năng thông tin và chức năng kiểm soát sự hình thành và vận động của tài sản, nguồn vốn nhằm bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp. Bên cạnh việc là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc kiểm soát, điều hành và ra quyết định của nhà quản trị hệ thống thông tin kế toán còn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phối hợp hoạt động và nâng cao hiệu quả tác nghiệp của các bộ phận chức năng.
Chính vì kế toán là một hệ thống thông tin (Romney và Steinbart, 2012) nên hệ thống thông tin kế toán cũng sẽ có các thành phần chức năng của một hệ thống thông tin. Các thành phần chức năng của một hệ thống thông tin kế toán (Bộ môn Hệ thống thông tin kế toán, Khoa Kế toán – Kiểm toán, ĐHKT TP.HCM, 2011), gồm: Đầu vào: Tất cả những nội dung đưa vào hệ thống thông tin kế toán gọi là dữ liệu đầu vào, bao gồm: hệ thống chứng từ và nội dung các chứng từ sử dụng để phản ánh nội dung các nghiệp vụ phát sinh; các đối tượng kế toán mà các nghiệp vụ phát sinh tập hợp theo dõi thông qua hệ thống tài khoản; hệ thống các đối tượng quản lý mà các nghiệp vụ phát sinh cần tập hợp theo dõi chi tiết. Xử lý: Bao gồm tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình xử lý dữ liệu để có thông tin kế toán hữu ích như: quy trình luân chuyển chứng từ và thực hiện các quá trình kinh doanh; hình thức ghi sổ hay cách thức nhập liệu, khai báo, cập nhật dữ liệu; quy định về phân tích, hạch toán nghiệp vụ phát sinh; phương thức xử lý dữ liệu; bộ máy xử lý bao gồm mối quan hệ giữa các bộ phận trong việc thu thập luân chuyển thông tin về bộ phận kế toán; tổ chức công việc trong bộ máy kế toán. Lưu trữ: dữ liệu thu thập và xử lý để phục vụ cho quá trình xử lý cung cấp thông tin thông qua hệ thống chứng từ sổ sách kế toán hoặc các tập tin, các bảng lưu trữ dữ liệu.
Đầu ra: là các thông tin kế toán nhằm đáp ứng cho yêu cầu của người sử dụng, bao gồm các đối tượng bên trong và bên ngoài tổ chức. Thông tin được thể hiện 123doc 17 thông qua hệ thống báo cáo gồm báo cáo tài chính và các báo cáo kế toán quản trị. Trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin, đầu ra của hệ thống thông tin kế toán còn bao gồm toàn bộ các thông tin kế toán cần thiết phục vụ yêu cầu quản lý và tác nghiệp mà các bộ phận chức năng được phân quyền truy cập trong tổ chức. Kiểm soát: Gồm những quy định, thủ tục chính sách được thiết lập trong hệ thống kế toán để kiểm soát quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin của hệ thống kế toán đảm bảo thông tin cung cấp là trung thực, hữu ích với người sử dụng.
Ngoài ra, tiếp cận hệ thống thông tin kế toán thông qua việc mô tả những yếu tố cấu thành nên hệ thống, Romney và Steinbart (2012) cho rằng hệ thống thông tin kế toán gồm sáu yếu tố cấu thành cơ bản: Người sử dụng hệ thống Thủ tục và chỉ dẫn để thu thập, xử lý và lưu trữ dữ liệu. Dữ liệu về tổ chức và các hoạt động kinh doanh của tổ chức. Phần mềm sử dụng để xử lý dữ liệu. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin: gồm máy tính, thiết bị ngoại vi, thiết bị mạng truyền thông được sử dụng để vận hành hệ thống.
Kiểm soát nội bộ và các biện pháp an ninh để bảo vệ dữ liệu.2 Hài lòng của người sử dụng Hài lòng là trạng thái cảm giác của một người khi so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó (Kotler và cộng sự, 2005). Như vậy, nếu kết quả thực hiện kém hơn so với kỳ vọng thì họ sẽ không hài lòng. Nếu kết quả thực hiện tương xứng với kỳ vọng thì họ sẽ hài lòng. Nếu kết quả thực tế vượt quá sự mong đợi thì họ rất hài lòng, vui sướng và thích thú.
Sự hài lòng của người sử dụng hệ thống thông tin là mức độ người dùng tin rằng các hệ thống thông tin xử lý đáp ứng nhu cầu của họ (Ives et. Sự hài lòng của người sử dụng hệ thống thông tin đề cập đến các phản ứng của người sử dụng về hệ thống như như sự hài lòng đối với toàn bộ hệ thống, sự thích thú, sự khác biệt giữa các thông tin cần và 123doc 18 nhận được (Delone và McLean, 1992; Delone và McLean, 2003). Các thang đo được phát triển bởi Bailey và Pearson (1983), Ives et al. (1983) và Doll và Torkzadeh (1988) là các thang đo được sử dụng rộng rãi trong đo lường sự hài lòng của người sử dụng hệ thống thông tin.
Tuy nhiên, những thang đo này cũng có chứa các mục liên quan đến chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin và chất lượng dịch vụ, chứ không phải chỉ đo lường riêng hài lòng của người sử dụng. Theo đó, các mục khác đã được phát triển để dành riêng đo lường sự hài lòng của người sử dụng hệ thống thông tin.1 trình bày một số ví dụ. Nhân tố đo lường hài lòng của người sử dụng Nhân tố Định nghĩa Nguồn tham khảo Thích hợp Mức độ thích hợp của thông tin Almutairi and Subramanian đối với nhiệm vụ của người sử (2005), Seddon and Yip (1992), dụng. Seddon and Kiew (1994) Hữu hiệu Mức độ mà hệ thống tạo ra kết Almutairi and Subramanian quả mong muốn.
(2005), Seddon and Yip (1992), Seddon and Kiew (1994) Hiệu quả Mức độ mà hệ thống tạo ra kết Almutairi and Subramanian quả mong muốn đồng thời tiết (2005), Seddon and Yip (1992), kiệm được thời gian, công sức Seddon and Kiew (1994) và chi phí. Thích thú Mức độ thích thú của người sử Gable et al. (2008) dụng đối với hệ thống. Hài lòng đối Mức độ cảm nhận về chất Gable et al.