chương 1 còn trình bày mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của những nhân tố này được thực hiện đối với nhóm khách hàng cá nhân đến giao dịch tại BIDV Bình Thuận, đây là nhóm khách hàng có tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động được của ngân hàng. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 2. Cơ sở lý thuyết về tiền gửi tiết kiệm ngân hàng 2. Khái niệm tiền gửi tiết kiệm ngân hàng Gup et al.
(2005) định nghĩa “tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền khách hàng đến gửi tại ngân hàng để có được mức lãi suất cố định trong một khoản thời gian nhất định”. Lê Thị Thu Hằng (2012) cho rằng “tiền gửi tiết kiệm ngân hàng là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng với mong muốn gia tăng giá trị hiện có, đảm bảo sự an toàn và sự thuận tiện khi cần sử dụng. Theo đó, hành vi gửi tiền tiết kiệm ngân hàng của khách hàng cá nhân là sự lựa chọn của khách hàng về ngân hàng để giao dịch, loại tiền gửi, kỳ hạn gửi và các loại hình tiết kiệm”. Thông tư 48/2018/TT-NHNN nêu rõ “tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng” (Ngân hàng nhà nước Việt Nam, 2018).
Như vậy, có thể hiểu tiền gửi tiết kiệm là những khoản mà ngân hàng thương mại huy động được từ những cá nhân có vốn nhàn rỗi trong một thời gian nhất định, gửi gửi với mục đích an toàn và sinh lãi, trong khi ngân hàng thương mại huy động nguồn vốn này để tạo một nguồn vốn có tính chất ổn định trong hoạt động của mình. Phân loại các loại tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2013) cho rằng: căn cứ theo thời gian, tiền gửi tiết kiệm được phân thành tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, trong đó: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là hình thức gửi tiết kiệm dành cho khách hàng gửi tiền vào ngân hàng chủ yếu vì mục tiêu an toàn do chưa có kế hoạch sử dụng trong khoảng thời gian gần. Khi gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng có thể rút 7 tiền bất cứ lúc nào, rút một phần hay toàn phần bằng tiền mặt hay thanh toán chuyển khoản nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả. Do đó, ngân hàng sẽ khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và những khoản gửi tiết kiệm này thường có tỷ lệ lãi sinh lời thấp.
Bên cạnh đó, khách hàng sẽ được cấp sổ tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, mỗi lần thực hiện giao dịch, bắt buộc khách hàng phải xuất trình sổ tiền gửi, sổ này sẽ phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút tiền, tiền lãi được hưởng và số dư hiện có. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiết kiệm dành cho khách hàng gửi tiền vào ngân hàng chủ yếu vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và đã có kế hoạch sử dụng trong tương lai, vì vậy, người gửi chỉ được rút ra sau một kỳ hạn nhất định. Khách hàng thường là người có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng nhu cầu chi tiêu hàng tháng, hàng quý, thường là công nhân, viên chức hưu trí muốn hưởng lợi tức định kỳ. Đây là sản phẩm có tính thanh khoản thấp, chuyển nhượng quyền sử dụng vốn có thời hạn.
Khi sử dụng sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn khách hàng sẽ được hưởng ưu đãi lãi suất cao và có tính cạnh tranh tùy vào chính sách của từng ngân hàng, lãi suất có thể thay đổi theo từng kỳ hạn (3,6,9,12 tháng), theo từng loại đồng tiền (VND, USD, EUR,…). Ngân hàng có thể huy động dưới hình thức sổ tiết kiệm hay chứng chỉ tiền gửi, nhằm huy động tiền gửi nhàn rỗi của cá nhân. Bên cạnh đó, khách hàng cũng sẽ được cấp sổ tiết kiệm và theo dõi tính lãi hàng tháng. Mặt khác, khách hàng chỉ được rút tiền theo đúng kỳ hạn đã ký kết, nếu rút trước hạn khách hàng phải chịu mất lãi hoặc chỉ hưởng theo lãi suất không kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn huy động vốn của NHTM và mang tính ổn định hơn tiền gửi không kỳ hạn. Với hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, ngân hàng có thể sử dụng như nguồn vốn cho vay trung hạn, ngắn hạn hoặc dài hạn. Ngoài ra, ngân hàng còn có một số loại tiền gửi tiết kiệm khác nhằm thu hút khách hàng các hình thức khuyến mãi như nâng cao tiện ích, tiết kiệm có thưởng… Các hình thức tiết kiệm khác thường mang nét đặc trưng riêng và luôn được đổi mới để cạnh tranh với các ngân hàng khác. Đặc điểm tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ và hội nhập, việc gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng trở nên dễ dàng và phổ biến hơn, Võ Ngọc Danh (2017) đã trình bày các đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng như sau: Có thời gian cụ thể Người gửi tiết kiệm sẽ được chọn gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn.
Thông thường kỳ hạn mà ngân hàng quy định có thể từ 1 tháng đến 3 năm. Ngày cuối cùng cũng mỗi kỳ hạn được gọi là ngày đáo hạn; người gửi sẽ được nhận lại khoản tiền gốc và lãi sau khi đã gửi cho ngân hàng. Ngoài ra, với hình thức gửi tiền không kỳ hạn, khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào theo nhu cầu sử dụng. Sinh lãi suất Lãi suất là nhân tố quan trọng không thể thiếu khi gửi tiết kiệm.
Đây là khoản tiền lời để khách hàng quyết định có gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng đó hay không, bao gồm lãi suất không kỳ hạn và lãi suất có kỳ hạn. Thông thường, lãi suất gửi tại quầy sẽ khác lãi suất gửi online và lãi suất không có kỳ hạn cũng sẽ thấp hơn lãi suất có kỳ hạn. Tính ổn định, an toàn Lãi suất gửi tiết kiệm nhìn chung sẽ thấp hơn các loại hình đầu tư khác bởi tính an toàn và ít rủi ro của nó. Gửi tiết kiệm không có nhiều yêu cầu hãy những quy định quá khắt khe như là đóng bảo hiểm nhân thọ mà theo đó, khách hàng sẽ biết trước khoản tiền lãi mà mình sẽ nhận được khi đáo hạn, ngoài ra, tiền gửi được cất giữ an toàn trong ngân hàng và khi có nhu cầu cần gấp, khách hàng có thể rút ra sử dụng bất kỳ lúc nào, điều này đem lại sự yên tâm và là kênh đầu tư an toàn khi gửi tiền tại ngân hàng.
Ngoài ra, tiền gửi tiết kiệm được kiểm soát qua sổ hay thẻ tiết kiệm, mà những chứng từ mà NHTM sử dụng để quản lý tiền gốc, tiền lãi và kỳ hạn gửi tiền của khách hàng. Vai trò của tiền gửi tiết kiệm ngân hàng Tuy nhiên hiện nay, các ngân hàng đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động tiền gửi. Họ không những họ phải cạnh tranh với các ngân hàng trong nước 9 mà còn cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài để huy động sao cho đạt hiệu quả cao nhất. (Võ Ngọc Danh, 2017) và (Lê Thị Kim Anh & Trần Đình Khôi Nguyên, 2016) cho thấy các vai trò của tiền gửi tiết kiệm ngân hàng như sau: Đối với NHTM Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn kinh doanh quan trọng, chi phối toàn bộ hoạt động và quyết định thực hiện các chức năng của NHTM.
Nguồn tiền gửi tiết kiệm giúp ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh như cho vay, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh nợ… Nếu không có tiền gửi tiết kiệm, quy mô của ngân hàng có thể bị bó hẹp và khó thực hiện các chức năng cho kinh doanh của mình (Võ Ngọc Danh, 2017). Đối với khách hàng Tiền gửi tiết kiệm giúp khách hàng nhận được khoản lợi tức từ lãi suất tiền gửi, đảm bảo tính an toàn, tin cậy khi cất giữ tiền bạc và mang tính tiện lợi, có thể rút được bất kỳ lúc nào nếu gửi không kỳ hạn và dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ khác trong ngân hàng(Võ Ngọc Danh, 2017, Lê Thị Kim Anh & Trần Đình Khôi Nguyên, 2016). Đối với nền kinh tế Việc huy động được nguồn tiền nhàn rỗi trong nhân dân giúp các ngân hàng có nguồn vốn kinh doanh ổn định, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn khác nhau của nền kinh tế và thúc đẩy phát triển kinh tế. Ngoài ra, thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc và chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương có thể điều hành hiệu quả nền kinh tế(Võ Ngọc Danh, 2017).
Lý thuyết về hành vi 2. Lý thuyết về hành vi của khách hàng Theo Philip Kotler và Gary Amstrong (2012) thì hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ. Hay nói cách khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. 10 Quá trình mua của khách hàng là một chuỗi các giai đoạn mà người tiêu dùng trải qua trong việc quyết định mua sản phẩm hoặc dịch vụ và sẽ chịu tác động của các yếu tố như văn hóa, xã hội, cá nhân, tâm lý… Quá trình mua thường trải qua năm giai đoạn: Thứ nhất, giai đoạn “Nhận thức nhu cầu” Đây là giai đoạn đầu tiên trong quá trình phân tích hành vi của khách hàng cá nhân.
Nhu cầu làm phát sinh ra động lực, sự thúc đẩy. Có một số nhu cầu thầm lặng cần được kích thích đủ mạnh để có thể biến thành động lực. Thứ hai, giai đoạn “Tìm kiếm thông tin” Khi sự thôi thúc của nhu cầu đủ mạnh, khách hàng bắt đầu tìm kiếm thông tin để hiểu biết về sản phẩm, dịch vụ. Khi tìm hiểu thông tin khách hàng có thể tìm hiểu từ nguồn thông tin bên trong và nguồn thông tin bên ngoài.
- Tìm hiểu bên trong: + Tìm hiểu thông tin qua ký ức khách hàng: trong ký ức khách hàng đã từng giao dịch với Ngân hàng nào.