CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Mục đích của chương này trình bày toàn cảnh về các đề tài trước là căn cứ xác định các lỗ hổng và kế thừa kết quả để hình thành định hướng nghiên cứu của luận án. Các nội dungliên quan đến đề tài như các công trình trong và ngoài nước về các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTCL, sự tác động của thực hiện KTQTCL đến thành quả của DNSX. Trên cơ sở này, NCS kế thừa và tìm ra lỗ hổng lý thuyết, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu mới của luận án.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài 1.1 Các nghiên cứu về KTQTCL Khái niệm về KTQTCL được Simmonds (1981) công bố lần đầu tiên trên tạp chí chuyên ngành của Anh Quốc. KTQTCL được tác giả kỳ vọng được thực hiện rộng rãi tại đơn vị, do những lợi ích mà KTQTCL mang lại khi áp dụng so với KTQT truyền thống.
Tuy nhiên, hơn 30 năm qua sự phát triển KTQTCL được các học giả đánh giá là chậm hơn so với kỳ vọng (Šoljaková, 2012). Do đó, nghiên cứu về KTQTCL được phân loại ba hướng nghiên cứu là (1) Nghiên cứu về các kỹ thuật KTQTCL, (2) Nghiên cứu ủng hộ áp dụng KTQTCL, (3) Các rào cản khi thực hiện KTQTCL.1 Nghiên cứu về các kỹ thuật KTQTCL. Theo Ojua (2016), mô tả KTQTCL là hệ thống thông tin được sử dụng để hỗ trợ lãnh đạo cấp cao ra quyết định chiến lược khi thị phần trở nên cạnh tranh hơn. Đó cũng là nguyên nhân của sự gia tăng nhiều các đề tài về các kỹ thuật KTQTCL cũng như thực hiện KTQTCL.
Khi đề cập đến thành phần của kỹ thuật KTQTCL có nhiều danh sách khác nhau về kỹ thuật KTQTCL mang tính chiến lược được đề xuất dựa trên quan điểm khác nhau của các học giả. Một số học giả đã mô tả kỹ thuật KTQTCL liên quan đến sự tập trung rõ ràng về chiến lược, với trọng tâm thông tin bên ngoài tổ chức, và nhìn về tương lai (Ma và cộng sự, 2009). Ngoài ra, một số đề tài khác mô tả kỹ thuật KTQTCL là sự giao thoa giữa kỹ thuật KTQT với công tác QTCL. Chính vì thế, dù các nhiều nghiên cứu về KTQTCL, tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm chung phổ biến về kỹ thuật KTQTCL (Juras, 2014).
Bộ danh sách kỹ thuật KTQTCL được xem là đầu tiên được đề xuất bởi Guilding và cộng sự (2000). Nhóm tác giả sử dụng các tiêu chí để đánh giá kỹ thuật KTQT nào được xem xét là KTQTCL. Với lý do là phần lớn các kỹ thuật KTQT truyền thống thường liên quan chủ yếu đến “chiến thuật” nhiều hơn là cấp “chiến lược” trong đơn vị. Thông tin được cung cấp từ hệ thống KTQT truyền thống thường theo quan điểm thời gian là năm tài chính trong ngắn hạn, do đó KTQT truyền thống chưa mang tính dài hạn và hướng về tương lai đối với hoạt động tổ chức.
Mặc khác, KTQT truyền thống cũng chưa có sự phối hợp với hoạt động Marketing hoặc đặt trong tâm cung cấp thông tin cho nghiên cứu thị trường cạnh tranh. Vì thế, các đặc điểm nêu ở trên của KTQT truyền thống không thích hợp với quan điểm định hướng chiến lược mà KTQT phải đáp ứng nhu cầu mới của lãnh đạo cấp cao. Do đó, tiêu chí được Guilding và Cộng sự (2000) đặt ra đối với KTQTCL cụ thể như: Thông tin do KTQTCL cung cấp phải là những hoạt động kinh doanh của đơn vị mang tính thời gian dài hạn trong tương lai, và KTQTCL phải tập trung khai thác các đối tượng bên ngoài tổ chức. Hơn nữa, Guilding et al (2000) còn nhấn mạnh rằng chỉ khi các kỹ thuật KTQT thỏa những tiêu chí này mới có thể trở thành một kỹ thật KTQTCL hữu hiệu phù hợp với công tác QTCL của tổ chức.
Dựa trên tiêu chí về kỹ thuật KTQTCL bao gồm thông tin mang tính thời gian dài hạn, tập trung vào tương lai và đối tượng khai thác bên ngoài đơn vị, Guilding et al (2000) đã tập hợp mười hai danh sách trong bộ kỹ thuật KTQTCL, đây được xem là bộ kỹ thuật KTQTCL chuẩn đầu tiên trong nghiên cứu KTQTCL. Bộ danh sách kỹ thuật KTQTCL thứ hai được đề xuất bởi nhóm tác giả Cravens et al (2001). Bộ danh sách này được kế thừa từ bộ danh sách của Guilding et al (2000) và bổ sung thêm kỹ thuật hao tổn theo hoạt động (ABC); Benchmarking; và tích hợp đo lường thẻ cân bằng điểm (BSC) và loại bỏ kỹ thuật đánh giá thương hiệu ra danh sách bộ kỹ thuật so với bộ danh sách ban đầu. luan an 10 Bộ danh sách tiếp theo gồm 14 kỹ thuật KTQTCL tiếp theo được đề xuất tác giả Cinquini và cộng sự (2007).
Bộ kỹ thuật này so với bộ kỹ thuật Cravens và cộng sự (2001) bổ sung thêm một kỹ thuật là phân tích lợi nhuận người mua (Customer Profitability Analysis). Danh sách bộ kỹ thuật KTQTCL được phát triển bởi Cadez và Cộng sự (2008) bao gồm mười sáu kỹ thuật KTQTCL, bộ danh sách này bổ sung thêm hai kỹ thuật KTQTCL mới so với bộ kỹ thuật của học giả Cinquini và cộng sự (2007). Bộ danh sách của Cadez và cộng sự (2008) được nhiều học giả đánh giá là tương đối đầy đủ các kỹ thuật KTQTCL và được sử dụng làm nền trong nhiều đề tài như: Al- Mawali (2015); Ojua (2016),…Đề tài của Shah và cộng sự (2011) trong phần tổng quan lý thuyết về kỹ thuật KTQTCL đã liệt kê số lượng kỹ thuật về KTQTCL ít hơn bao gồm 8 kỹ thuật. Nhóm tác giả Alsoboa và cộng sự (2015) xác định tổng hợp 19 kỹ thuật KTQTCL từ các nghiên cứu trước.
Một quan điểm khác khác, khi xem xét tiêu chuẩn các kỹ thuật KTQTCL là công cụ dùng để kiểm soát hoạt động, lập kế hoạch và đưa ra quyết định trong tổ chức (Brouthers và Roozen, 1999). Trên cơ sở này, Fowzia (2011) cho biết rằng một số học giả dành sự chú ý ngày càng tăng đến đề tài liên quan đến ứng dụng KTQTCL và khám phá các yếu tố tác động đến thực hiện KTQTCL. Đề tài của tác giả Ojra (2014) bổ sung 5 kỹ thuật KTQTCL so với nghiên cứu Cadez và cộng sự (2008). Căn cứ trên bảng tổng hợp của tác giả Juas (2014) và tổng hợp của nhiều học giả nghiên cứu về KTQTCL bao gồm Guilding và cộng sự (2000), Cravens và Guilding (2001), Cinquini và Tenucci (2007), Cadez và Guilding (2008), Shah (2011), Fowzia (2011) và Ojra (2014).
Tác giả tổng hợp bảng phụ lục số 13 về danh sách bộ kỹ thuật KTQTCL được nhiều tác giả dùng phổ biến trong nghiên cứu. Một số học giả thực hiện chia nhóm các kỹ thuật KTQTCL, nhìn chung các tiêu chí phân loại này đều dựa trên đặc điểm đối tượng KTQTCL với trọng tâm khai thác cung cấp thông tin, có hai cách phân loại tiêu biểu như: Cinquini và cộng sự (2007) luan an 11 chia kỹ thuật KTQTCL thành bốn nhóm kỹ thuật định hướng là: (1) Đối thủ, (2) Dài hạn, (3) Quá trình/hoạt động và (4) Người mua. Cách chia nhóm thứ hai được nhiều đề tài sử dụng (như Ojra, 2014; Al-Mawali, 2015; Michael và cộng sự, 2017) là của Cravens và cộng sự (2008), gồm năm nhóm chính: (1) nhóm chi phí (Costing), (2) lập kế hoạch, kiểm soát và đo lường hiệu quả (Planning, Control and Performance Measurement), (3) ra quyết định chiến lược (Strategic Decision Making), (4) Kế toán đối thủ (Competitor Accounting), và (5) Kế toán người mua (Customer Accounting) (Phục lục 13 được phân loại theo cách này). Từ phụ lục 13 có thể thấy rằng có sự trùng nhau khá nhiều giữa các nhóm KTQTCL.
KTQTCL được phân loại thành các nhóm khác nhau cho thấy rằng KTQTCL được xem là cấu trúc đa chiều, không chỉ là tập hợp của nhiều kỹ thuật KTQTCL (Cuganesan và cộng sự, 2012) Lợi ích khi áp dụng KTQTCL đã được nhiều tác giả đề cập đến khi thực hiện so với KTQT truyền thống. Một số đề tài thực hiện điều tra nội dung kỹ thuật KTQTCL nào được thực hiện nhiều nhất và mức độ thực hiện ở mỗi quốc gia khác nhau có gì khác biệt như Guilding và cộng sự (2000) tiến hành điều tra tại về nội dung thực hiện mười hai kỹ thuật KTQTCL cụ thể là: 124 đơn vị ở NewZealand; ba quốc gia tiên tiến 127 đơn vị ở Mỹ và 63 đơn vị ở Anh Quốc. Kết quả của đề tài cho thấy việc thực hiện KTQTCL ở cả ba quốc gia này khá phổ biến. Trong đó hai kỹ thuật được thực hiện với mức độ nhiều nhất là kỹ thuật chiến lược giá và nhóm kỹ thuật kế toán người mua.
Vai trò của KTQTCL đối với việc ra quyết định đều được các đối tượng điều tra ở các đơn vị cả ba nước này đánh giá là có ích, và mức độ thực hiện tại cả ba quốc gia này là tương đối giống nhau. Nhưng khi đánh giá tác động của quy mô đến thực hiện KTQTCL thì có sự khác nhau giữa các quốc gia, trong đó New Zealand bị chi phối nhiều nhất, và ít tác động hơn ở hai nước Anh và Mỹ. Với mục tiêu điều tra mức độ thực hiện mười sáu kỹ thuật KTQTCL trong tổ chức tại nước tiên tiến là Slovenia, quốc gia đã có nhiều thành công khi chuyển sang nền kinh tế thị trường. Cadez và cộng sự (2007) đã điều tra 193 đơn vị lớn ở Slovenia.
luan an 12 Tuy nhiên, báo cáo kết quả của đề tài cho thấy nội dung KTQTCL chưa được vận dụng nhiều ở Slovenia. Đề tài cũng phát hiện thấy nhóm kỹ thuật đối thủ cạnh tranh được sử dụng nhiều nhất và đánh giá người mua như tài sản được sử dụng ít nhất trong cuộc đều tra mười sáu kỹ thuật này. Một bài báo về thực hiện KTQTCL khảo sát tại 70 DNSX ở Banladesh, một đất nước có nền kinh tế đang phát triển được thực hiện bởi tác giả Fowzia (2011). Báo cáo kết quả cho biết mức độ thực hiện nội dung các kỹ thuật KTQTCL chỉ đạt mức trung bình trở xuống.
Năm 2012, tác giả Ramljak và cộng sự thực hiện đề tài tìm hiểu về mức độ thực hiện KTQTCL tại Croatia, kết quả báo cáo của đề tài cho thấy tại Croatia việc thực hiện các kỹ thuật KTQTCL ngày càng nhiều trong các DNSX, số liệu điều tra cho thấy có 66% DNSX vận dụng ít nhất là một nội dung KTQTCL. Hai Kỹ thuật KTQTCL được dùng nhiều trong các DNSX là kỹ thuật ABC chiếm tỷ lệ 40% và kỹ thuật chi phí chất lượng chiếm tỷ lệ 39% DNSX vận dụng. Tại Malaysia, nhóm nghiên cứu Yap, Lee và Cộng sự (2013) thực hiện đề tài khảo sát 118 đơn vị chưa niêm yết về nội dung thực hiện kỹ thuật KTQT. Báo cáo kết quả đề tài cho thấy 55,1% các tổ chức trong điều tra đã thực hiện 11 trong số 40 nội dung của KTQT.