CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Việc lựa chọn CSKT bị chi phối bởi nhiều nhân tố và nhìn chung được xem xét dựa trên các ảnh hưởng kinh tế mà các chính sách này mang lại (Dhaliwal et al. Ảnh hưởng kinh tế ở đây, theo Holthausen và Leftwich (1983), là một sự thay đổi trong CSKT sẽ làm thay đổi cách thức tính toán, do đó sẽ làm thay đổi các chỉ tiêu kinh tế của DN như sự phân phối dòng tiền hoặc quyền lợi của các bên sử dụng những thông tin này cho việc ký kết hợp đồng hay ra quyết định. Để thực hiện đề tài này, tác giả đã tiến hành lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán để tìm ra khe hổng nghiên cứu. Với cơ sở dữ liệu hiện có, tác giả đã tìm hiểu một số nghiên cứu về vấn đề này như sau: 1.Các nghiên cứu ngoài nước 1.
Nghiên cứu của Healy (1985) Effect of bonus schemes on accounting decision (ảnh hưởng của kế hoạch tiền thưởng đến lựa chọn chính sách kế toán) Healy đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của kế hoạch tiền thưởng đối với người quản lý đến số liệu kế toán trên BCTC nhằm thu thập bằng chứng rằng liệu các kế hoạch này có ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của người quản lý không. Trước hết, Healy đã khảo sát cách thức tính khoản thưởng trên lợi nhuận của doanh nghiệp và đưa ra mô hình tính như sau: Pt{ max[Et – Lt]} hoặc Pt(min{Ut,max[Et-Lt],0) Trong đó Pt: Tỷ lệ phần trăm tối đa Et: Lợi nhuận trong kỳ Lt: Lợi nhuận tối thiểu Ut: Lợi nhuận tối đa Các tính này được Healy giải thích như sau Khi lợi nhuận trong kỳ (Et) nhỏ hơn mức tối thiểu (Lt), hiệu số (Et-Lt) nhỏ hơn 0 nên khoản tiền thưởng sẽ là 0. Khi lợi nhuận trong kỳ cao hơn mức tối thiểu phần chênh lệch sẽ được nhân tỷ lệ phần trăm Pt để tính ra khoản thưởng. Quy định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 này khuyến khích các nhà quản lý nâng lợi nhuận cao hơn mức tối thiểu; nhằm khắc phục tâm lý sợ rủi ro của nhà quản lý Tuy nhiên, khi khoản chênh lệch (Et-Lt) quá lớn, vượt khỏi mức Ut nhất định thì nhà quản lý chỉ tính tiền thưởng trên Ut.
Cách tính này nhằm hạn chế người quản lý chạy theo con số lợi nhuận quá mức, mang lại rủi ro quá cao cho doanh nghiệp. Trong bối cảnh trên, người quản lý sẽ tìm cách ảnh hưởng đến số liệu kế toán để mang lại lợi ích cho mình. Ngoài ra Healy cũng xem xét vấn đề lựa chọn chính sách kế toán bằng cách khảo sát tổng dồn tích của doanh nghiệp. Tổng dồn tích là chênh lệch giữa lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh bao gồm khấu hao, chênh lệch hàng tồn kho, các khoản phải thu và phải trả của DN.
Các khoản dồn tích sẽ tăng lên khi nhà quản lý muốn tăng lợi nhuận và ngược lại. Healy sử dụng danh sách năm 1980 của 250 công ty niệm yết thuộc lĩnh vực công nghiệp lớn nhất, sau đó chọn lọc 94 công ty có đầy đủ kế hoạch khen thưởng. Healy đã chia các công ty thành 3 nhóm: + Nhóm UPP bao gồm các công ty – năm có lợi nhuận cao hơn mức tối thiểu + Nhóm LOW bao gồm các công ty – năm có lợi nhuận thấp hơn mức tối thiểu + Nhóm MID bao gồm các công ty – năm không thuộc hai nhóm trên Kết quả được mong đợi là tổng dồn tích hầu hết sẽ âm ở nhóm LOW và nhóm UPP, nghĩa là người quản lý sẽ giảm dồn tích để giảm lợi nhuận trong thời kỳ lợi nhuận thấp hơn mức tối thiểu và cao hơn mức tối đa. Đối với nhóm MID, kết quả mong đợi là tổng dồn tích hầu hết sẽ dương nhằm tăng lợi nhuận trong giai đoạn lợi nhuận nằm gữa mức tối thiểu và mức tối đa.
Kết quả phân tích thống kê của Healy cho kết quả như mong đợi tức là kế hoạch tiền thưởng đối với nhà quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Whittred (1987) The derived demand for consoliadated financial reporting (Nhu cầu xuất phát cho các báo cáo tài chính hợp nhất) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nghiên cứu cung cấp bằng chứng về việc nhà quản lý đã tự nguyện hợp nhất BCTC nhằm thỏa mãn các yêu cầu của chủ nợ và nâng cao các khoản khen thưởng cho nhà quản lý. Whittred quay lại thời kỳ 1930 – 1950 khi BCTC hợp nhất chưa bắt buộc phải thực hiện ở Australia. Trong giai đoạn này, luật thuế yêu cầu các công ty phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất lũy tiến, khiến nhiều công ty đã thành lập các công ty con để tránh phải nộp thuế lũy tiến.
Khi cơ cấu công ty ngày càng phức tạp, xuất hiện nhiều khả năng các công ty trong cùng tập đoàn chuyển nợ lẫn nhau dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. Để đối phó các ngân hàng yêu cầu một khoản bảo lãnh liên công ty trong tập đoàn cho một khoản vay cho bất kỳ công ty nào trong tập đoàn. Để có thể giám sát con số tài sản cũng như công nợ của tập đoàn, ngân hàng sử dụng BCTC hợp nhất. Whittred đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các khoản bảo lãnh liên công ty với các khoản thưởng cổ phần với việc tự nguyện hợp nhất BCTC trên thị trường chứng khoán Australia.
Kết quả thực nghiệm chứng minh có quan hệ: Nghĩa là các công ty có quan hệ bảo đảm liên công ty có khuynh hướng lập BCTC hợp nhất tự nguyện với mục đích làm tăng độ tin cậy chi chủ nợ, giảm bớt chi phí giám sát và qua đó giảm bớt chi phí ủy nhiệm. Qua nghiên cứu của Whittred cho ta thấy yêu cầu của chủ nợ và các khoản khen thưởng cho nhà quản lý dẫn tới các công ty lựa chọn chính sách kế toán đó là lập BCTC hợp nhất để thỏa mãn yêu cầu của chủ nợ và nâng cao khoản khen thưởng cho nhà quản lý. Nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) Positive Accounting Theory. A Ten Year Perspective (Lý thuyết kế toán thực chứng) Nghiên cứu đã xem xét lại các nghiên cứu lý thuyết kế toán thực chứng trong những năm 1980 và cũng đề xuất cách để cải thiện nghiên cứu thực chứng trong lựa chọn kế toán.
Ba giả thuyết chính được sử dụng để giải thích và dự đoán mối tương quan của các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán trong nghiên cứu là: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Giả thuyết kế hoạch tiền thưởng: Nhà quản lý của các DN mà có chi trả tiền thưởng theo lợi nhuận thì có nhiều khả năng sẽ sử dụng phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận trong kỳ báo cáo đề tăng giá trị khoản tiền thưởng trả cho mình - Giả thuyết nợ: Nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của DN càng cao thì nhà quản lý có nhiều khả năng sử dụng phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận để tránh vi phạm những hạn chế trong cam kết vay vốn. - Giả thuyết chi phí chính trị: DN lớn có nhiều khả năng lựa chọn chính sách kế toán làm giảm lợi nhuận báo cáo hơn là các DNVVV để giảm thiểu chi phí chính trị Kết quả nghiên cứu thử nghiệm cho thấy giả thuyết tiền thưởng không thích hợp trong nhiều trường hợp. Bằng chứng thực nghiệm thu được nói chung phù hợp với giả thuyết nợ và giả thuyết chi phí chính trị đến sự lựa chọn chính sách kế toán. Nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự (2007) Determinants of Accouning Choices in Egypt ( Các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán ở Ai Cập) Colin R.Dey và cộng sự đã nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán ở Ai Cập.
Nghiên cứu đã thêm một giả thuyết mới vào ba giả thuyết trong nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) đó là giả thuyết thuế. Vì vậy trong nghiên cứu này nhóm tác giả đã đưa ra bốn giả thuyết nghiên cứu đó là - Giả thuyết kế hoạch tiền thưởng: - Giả thuyết nợ - Giả thuyết chi phí chính trị - Giả thuyết thuế Kết quả nghiên cứu cho thấy giả thuyết tiền thưởng, giả thuyết nợ, giả thuyết thuế có tác động đến lựa chọn chính sách kế toán đó là sự tồn tại của kế hoạch tiền thưởng luôn khuyến khích nhà quản lý, phương pháp khấu hao, phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho không làm tăng các khoản nghĩa vụ thuế phải nộp, mức vay nợ càng cao thì nhà quản lý có nhiều khả năng lựa chọn chính sách kế toán để tăng lợi nhuận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu của Cudia và Cynthia P (2008) Factors that influence small and medium enterprises in Metro Manila to choose between accrual and cash accounting (các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn giữa cơ sở kế toán dồn tích và cơ sở kế toán tiền ở Metro Manila) Thông qua quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu từ các kiểm toán viên thực hiện kiểm toán cho 163 DNNVV ở Metro Manila là trung tâm của đảo Luzon của Philippines nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn giữa cơ sở kế toán dồn tích và cơ sở kế toán tiền ở các DDNVV tại vùng này.
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tìm ra các nhân tố có ảnh hưởng. Nghiên cứu đã đưa ra mô hình nghiên cứu với 6 nhân tố tác động như sau: 6 nhân tố: - Bản chất của kinh doanh Lựa chọn giữa cơ sở kế toán - Thuận tiện trong lưu trữ hồ sơ dồn tích và cơ sở kế toán tiền - Sự phức tạp trong yêu cầu kế toán và ở các DDNVV tại Metro công bố thông tin - Yêu cầu tuân thủ thuế Hình 1. Mô hình nghiên cứu của Cudia, Cynthia P (2008) Kết quả nghiên cứu đã tìm ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn giữa hai cơ sở kế toán trên đó là: Bản chất của việc kinh doanh, sự thuận tiện trong lưu trữ hồ sơ, sự phức tạp trong yêu cầu kế toán và công bố thông tin, chi phí lập báo cáo tài chính, tính hữu dụng trong việc ra quyết định. Trong đó nhân tố bản chất của việc kinh doanh là có tác động mạnh nhất đến việc lựa chọn giữa cơ sở kế toán dồn tích và cơ sở kế toán tiền ở các DDNVV tại Metro Manila.
Nghiên cứu của Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.