Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng cấu trúc vốn Chương này trình bày các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hưởng cấu trúc vốn bao gồm các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan đến đề tài này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 3 Chương 2: Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương này giới thiệu phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu, đồng thời giải thích mô hình được sử dụng cho nghiên cứu và các biến được đưa vào mô hình để xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đặc thù công ty đến cấu trúc vốn của các CTCP ngành thép niêm yết trên thị trường chứng chứng khoán Việt Nam. Chương 3: Các nhân tố đặc thù công ty ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các CTCP ngành thép Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011 Chương này trình bày nội dung và kết quả nghiên cứu của đề tài. Việc phân tích thực trạng cấu trúc vốn của các CTCP ngành thép Việt Nam kết hợp với kết quả hồi quy của mô hình sẽ giúp rút ra kết luận chính xác hơn về các nhân tố đặc thù công ty ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cấu trúc vốn của các CTCP ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu 2008 - 2011.
Chương 4: Kết luận và các khuyến nghị trong việc hoạch định cấu trúc vốn của các CTCP ngành thép Việt Nam Chương này tóm tắt lại các kết quả chính của đề tài, từ đó trình bày các khuyến nghị được rút ra từ các bất cập của kết quả nghiên cứu nhằm giúp các doanh nghiệp có thêm thông tin trong việc xây dựng cấu trúc vốn phù hợp và hiệu quả hơn. Cuối cùng là giới hạn của đề tài và gợi ý cho nghiên cứu tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG CẤU TRÚC VỐN 1.1 Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trên thế giới về cấu trúc vốn Bắt đầu với quan điểm truyền thống, cuộc tranh luận về cấu trúc vốn trong giới nghiên cứu tài chính trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết kể từ khi công trình nghiên cứu của Modigliani và Miller (MM) ra đời đánh dấu sự hình thành quan điểm hiện đại về cấu trúc vốn. David Durand (1952) đã phát triển lý thuyết cấu trúc vốn bằng phương pháp thu nhập ròng của cấu trúc vốn.
Theo phương pháp này, một công ty có thể chọn một cấu trúc vốn, trong đó nợ nhiều hơn vốn chủ sở hữu để tăng giá trị thị trường của công ty và làm giảm chi phí sử dụng vốn. Nợ là nguồn tài trợ có chi phí sử dụng vốn thấp hơn vì lãi vay được khấu trừ trước thuế. Sau khi khấu trừ lãi vay, công ty phải trả thuế ít hơn và do đó sẽ làm giảm chi phí sử dụng vốn bình quân. Ngược lại, phương pháp thu nhập hoạt động ròng cho rằng giá trị công ty và tổng chi phí sử dụng vốn là độc lập với cấu trúc vốn.
Vì vậy, sự kết hợp các khoản nợ và vốn chủ sở hữu không ảnh hưởng đến giá trị công ty. Ezra Soloman (1963) đã phát triển lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên phương pháp được xem là trung gian giữa phương pháp thu nhập ròng và phương pháp thu nhập hoạt động ròng. Lý thuyết trung gian này được gọi là lý thuyết truyền thống của cấu trúc vốn. Lý thuyết truyền thống hướng đến một cấu trúc vốn tối ưu.
Theo quan điểm của lý thuyết này, ban đầu, công ty gia tăng sử dụng nợ để hạ thấp chi phí sử dụng vốn bình quân bởi vì chi phí sử dụng nợ rẻ hơn chi phí sử dụng vốn cổ phần, đến một lúc nào đó, chi phí sử dụng vốn bình quân đạt mức thấp nhất, tại đây giá trị công ty là cao nhất và công ty đạt cấu trúc vốn tối ưu. Lúc này, nếu công ty tiếp tục gia tăng nợ thì rủi ro cũng gia tăng làm cho chi phí sử dụng nợ lẫn chi phí sử dụng vốn cổ phần tăng lên dẫn đến sự gia tăng tổng chi phí sử dụng vốn bình quân, lợi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 5 ích tấm chắn thuế không thể bù đắp cho việc gia tăng của chi phí sử dụng vốn bình quân làm cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa. Modigliani và Miller (MM) đã mở màn lý thuyết hiện đại về cấu trúc vốn vào năm 1958. Các bài viết nổi tiếng của MM đã gây ra cuộc tranh cãi về việc tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn của một công ty có ảnh hưởng đến giá trị công ty hay không? Trong bài viết của mình, MM ủng hộ phương pháp thu nhập hoạt động ròng và bác bỏ lý thuyết truyền thống của cấu trúc vốn.
Theo MM, giá trị công ty không bị ảnh hưởng bởi cấu trúc vốn. Điều này có vẻ rất hợp lý về mặt lý thuyết nhưng được dựa trên các giả định của thị trường vốn hoàn hảo và không có thuế thì không phù hợp trong thực tế. Bởi vì trên thực tế, sự hiện diện của thuế thu nhập doanh nghiệp làm cho giá trị của công ty khác nhau từ việc sử dụng nợ do lợi ích về thuế đối với thanh toán lãi vay. Tuy vậy, sự ra đời của lý thuyết MM là nền tảng cho rất nhiều các công trình nghiên cứu sau đó về cấu trúc vốn.
Kraus và Litzenberger (1973) xây dựng phiên bản đầu tiên của lý thuyết đánh đổi bằng cách đưa chi phí phá sản vào mô hình của MM. Lý thuyết đánh đổi còn được gọi là lý thuyết về sự cân bằng giữa chi phí phá sản và lợi ích tấm chắn thuế của nợ. Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của lợi ích tấm chắn thuế phát sinh từ việc vay nợ. Việc gia tăng đòn bẩy tài chính làm tăng khả năng phá sản và do đó tăng chi phí phá sản dự kiến.
Theo lý thuyết này, cấu trúc vốn tối ưu được xác định tại điểm mà chi phí phá sản dự kiến tăng thêm được bù đắp bởi lợi ích tấm chắn thuế của các khoản nợ gia tăng. Theo Myers (1984), một công ty đi theo lý thuyết đánh đổi sẽ đặt ra tỷ lệ nợ mục tiêu và sau đó dần dần hướng đến mục tiêu này. Tỷ lệ nợ mục tiêu nợ được xác định bằng cách cân bằng lợi ích tấm chắn thuế của nợ và chi phí phá sản. Jensen và Meckling (1976) đã phát triển lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên chi phí đại diện mà công ty phải chịu, gồm hai loại chi phí: chi phí liên quan đến cổ đông bên ngoài và chi phí liên quan đến các khoản nợ hiện diện trong cấu trúc vốn.
Đầu tiên tổng chi phí đại diện giảm và sau đó tăng tại một mức độ nhất định của vốn cổ phần TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 6 bên ngoài trong cấu trúc vốn. Tổng chi phí đại diện có thể giảm tối thiểu tại một mức độ nhất định của vốn chủ sở hữu bên ngoài trong cấu trúc vốn, lúc này công ty đạt được mức độ tối ưu của cấu trúc vốn. Vì vậy, lý thuyết này hướng đến một cấu trúc vốn tối ưu. Hai lý thuyết khác về cấu trúc vốn được phát triển trong những năm 1970-80.
Ross (1977) phát triển lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên các thông tin bất cân xứng, theo đó, sự lựa chọn các cấu trúc vốn của công ty sẽ phát ra tín hiệu cho các nhà đầu tư bên ngoài về các thông tin bên trong công ty. Myers và Majluf (1984) đã phát triển các lý thuyết cấu trúc vốn dựa trên cơ sở giảm thiểu sự kém hiệu quả trong quyết định đầu tư gây ra bởi các thông tin bất đối xứng (Harris và Raviv, 1991). Theo đó, lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển bởi Myers (1984), ủng hộ nguồn vốn nội bộ hơn là các nguồn bên ngoài. Lý thuyết này giải thích mối quan hệ nghịch giữa thu nhập và tỷ lệ nợ và cho rằng không có tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu mục tiêu.
Trong vấn đề tài trợ, đầu tiên, nhà quản lý thích tài trợ bằng vốn chủ sở hữu nội bộ, sau đó vay nợ và cuối cùng là tài trợ vốn cổ phần bên ngoài (Martin và các cộng sự, 1988). Một số các nghiên cứu khác liên quan đến cấu trúc vốn được tiến hành ở một số nước khác cũng được trình bày ở đây để làm rõ khả năng giải thích của các lý thuyết về cấu trúc vốn. Phần lớn các kết quả nghiên cứu được bắt nguồn từ kinh nghiệm của các nền kinh tế phát triển (Hodder và Senbet, 1990; Rajan và Zingales, 1995; Wald, 1999; Ozkan, 2001; De Miguel và Pindado, 2001; Bevan và Danbolt, 2002). Vấn đề về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn ở các nước đang phát triển chỉ được quan tâm trong những năm gần đây khi mà các nước này có những thay đổi nhanh chóng về thể chế.
Các nước đang phát triển đã thực hiện nhiều cải cách theo hướng thị trường trong lĩnh vực tài chính. Việc hướng đến thị trường tự do, cùng với việc mở rộng và làm sâu sắc hơn các thị trường tài chính khác nhau bao gồm cả các thị trường vốn, đã tạo nhiều cơ hội cho công ty để tối ưu cấu trúc vốn. Một số nghiên cứu thực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 7 nghiệm đã cố gắng làm sáng tỏ vấn đề cấu trúc vốn liên quan đến đặc tính thể chế của các nước đang phát triển. Booth và các cộng sự (2001) là những người đầu tiên cung cấp nghiên cứu thực nghiệm toàn diện để kiểm tra khả năng giải thích của các mô hình cấu trúc vốn ở các nước đang phát triển.
Họ đã chọn các quốc gia có hệ thống kinh tế theo định hướng thị trường mang nhiều điểm tương đồng với các nước phát triển và sử dụng dữ liệu của 10 nước đang phát triển để đánh giá xem lý thuyết cấu trúc vốn thay đổi giữa các quốc gia mà có các cấu trúc thể chế khác nhau. Họ kiểm tra các yếu tố đã được quan sát từ các nghiên cứu của các nước phát triển, có thể chỉ áp dụng cho những nước này hoặc có được áp dụng cho tất cả các nước khác hay không. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các quyết định sự lựa chọn cấu trúc vốn ở các nước đang phát triển bị ảnh hưởng bởi các biến tương tự như ở các nước phát triển.