mở đầu, có diễn biến và có kết thúc. Quá trình nhận thức của con người được nảy sinh từ yêu cầu thực tiễn và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn chân lý. 11 Nhận thức là quá trình phản ánh tâm lý phản ánh hiện thực khách quan, lấy hiện thực khách quan làm nguyên liệu để nhận thức về thế giới, cũng như để tác động lại thế giới. Vì vậy, nhận thức là cơ sở hình thành thái độ và hành vi của con người.
Các biểu hiện của nhận thức Nhận thức gồm 2 quá trình: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Trong đó, nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác, nhận thức lý tính bao gồm tư duy và tưởng tượng. Trong đề tài này, chúng tôi quan tâm tới 2 biểu hiện của nhận thức: tri giác và tư duy. Tri giác Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, tri giác là một quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta.
Tri giác lấy nguyên liệu từ cảm giác, nhưng phản ánh lại sự vật một cách trọn vẹn. Tính trọn vẹn của tri giác là do tính trọn vẹn khách quan của bản thân sự vật và hiện tượng quy định. Trên cơ sở tri giác phụ thuộc vào kinh nghiệm, hiểu biết của mình, chỉ cần tri giác một số thành phần riêng lẻ của sự vật, hiện tượng thôi, chúng ta cũng tổng hợp được các thành phần riêng lẻ đó và tạo nên hình ảnh trọn vẹn của sự vật, hiện tượng. Sự tổng hợp này được thực hiện trên cơ sở sự hoạt động phối hợp của nhiều cơ quan phân tích.
[14] Mặc dù nói tri giác là hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, nhưng giữa tri gác và cảm giác có mối quan hệ qua lại với nhau. Nhờ có cảm giác mà tri giác đã phản ánh trực tiếp và trọn vẹn sự vật, hiện tượng bên ngoài với đầy đủ các đặc tính của nó. Tri giác gồm nhiều khía cạnh. Tri giác về một con người thường bao gồm tri giác về hình ảnh bên ngoài của người đó (hình dáng – khuôn mặt và các bộ phận cơ thể, điệu bộ - ngôn ngữ cơ thể, cách ăn mặc) và tri giác về âm thanh (giọng nói).
Các khía cạnh của tri giác có thể được phân tích một cách riêng lẻ hoặc tổng hợp theo quy luật tổng thể của tri giác để tạo ra hình ảnh hoàn thiện về một cá nhân. Tư duy Theo tác giả Nguyễn Xuân Thức, tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất những mối liên hệ quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng khách quan mà trước đó ta chưa biết. [14] Tư duy gồm nhiều quá trình thành phần, như ra quyết định, đánh giá, niềm tin, khuôn mẫu, v. Trong đó, niềm tin là sự đánh giá các đặc điểm của một người có tương thích hay trái ngược với các chuẩn mực, giá trị xã hội nói chung hay không.
Niềm tin có thể là niềm tin về bản thân, niềm tin về người khác, hoặc niềm tin về cách thức xã hội vận hành. Ví dụ, niềm tin rằng mình là người đảm đang thể hiện sự trùng khớp giữa những hiểu biết về tính cách của bản thân với quan niệm xã hội về sự đảm đang. Khuôn mẫu là một ý tưởng đơn giản hóa quá mức về những đặc điểm điển hình của một nhóm người. Một ví dụ thường thấy của khuôn mẫu về giới là phụ nữ là người đảm đang.
Trong thực tế, không phải phụ nữ nào cũng đảm đang, vì vậy đây là sự đơn giản hóa quá mức về đặc điểm của phụ nữ. Trong đề tài này, chúng tôi vận dụng quan điểm của Haddock để đưa ra 2 biểu hiện của nhận thức lý tính về bạn là người đồng tính: niềm tin về bạn là người đồng tính và khuôn mẫu về bạn là người đồng tính. Niềm tin và Khuôn mẫu là hai khía của tư duy gắn bó chặt chẽ với nhau. Khuôn mẫu là một loại niềm tin được kích hoạt bởi các giả định trước đó và là sự quy gán các đặc điểm cụ thể cho nhóm người nào đó trở thành khuôn mẫu.
Đặc điểm nhận thức của học sinh trung học cơ sở Học sinh THCS đang ở giai đoạn tuổi thiếu niên, chập chững bước vào thế giới mới, thế giới của người lớn với bao điều các em chưa được biết, vì vậy các em rất thích khám phá; óc tò mò, ham hiểu biết tăng lên nhanh chóng. Đặc trưng nổi bật trong hoạt động nhận thức của thiếu niên là tính mục đích, tính chủ định phát triển mạnh trong tất cả các quá trình nhận thức: tri giác, trí nhớ, chú ý, tư duy, tưởng tượng. 13 Tri giác: Ở học sinh THCS, tri giác có chủ định dần thay thế tri giác không chủ định. Các loại tri giác không gian, thời gian, tri giác vận động, tri giác con người phát triển mạnh.
Chất lượng khi tri giác đối tượng tăng lên rõ rệt. Thiếu niên tri giác có trình tự, có mục đích, có kế hoạch và hoàn thiện hơn so với nhi đồng. Khả năng phân tích và tổng hợp cũng tăng cao, khả năng quan sát cũng phát triển mạnh, trở thành một thuộc tính ổn định của cá nhân. Tuy vậy, khi tri giác các em cũng còn nhiều hạn chế như: hấp tấp, vội vàng, tính tổ chức, tính hệ thống trong tri giác còn nghèo.
Tư duy: Tư duy trừu tượng phát triển mạnh là nét đặc thù trong sự phát triển tư duy của thiếu niên. Đầu cấp trung học cơ sở, tư duy hình tượng - cụ thể vẫn tiếp tục phát triển, giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc của tư duy. Sang các lớp cuối cấp, tư duy trừu tượng phát triển mạnh mẽ. Khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa phát triển mạnh.
Khả năng hiểu được các khái niệm không gian và thời gian một cách chính xác hơn, hiểu và sử dụng được các kí hiệu, biểu tượng, ẩn dụ,. Các em có khả năng phân tích tài liệu tương đối đầy đủ, sâu sắc, biết phân biệt những dấu hiệu bản chất và không bản chất, nhận biết được những mối liên hệ, quan hệ của sự vật hiện tượng, tuy nhiên cũng có nhiều em còn hay nhầm lẫn. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thiếu niên nắm được dấu hiệu bản chất của đối tượng, nhưng có lúc không phân biệt được dấu hiệu đó trong tất cả các trường hợp cụ thể. Ví dụ: chưa nhận biết được tam giác vuông, khi góc vuông ở phía trên và cạnh huyền ở phía đáy của tam giác.
Khả năng suy luận của học sinh THCS tương đối hợp lý và có cơ sở. Khác với tuổi nhi đồng, thiếu niên phân tích nhiệm vụ trí tuệ bằng cách tạo ra những giả thuyết khác nhau, và kiểm tra các giả thuyết này (ví dụ như trong môn toán). Tư duy bằng các giả thuyết là công cụ đặc biệt của suy luận khoa học. Tư duy của thiếu niên có căn cứ.
Các em đã biết vận dụng các thao tác tư duy một cách linh hoạt, biết lập luận giải quyết vấn đề một cách có cơ sở, biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, có khả năng phân biệt cái đúng cái sai, có khả năng hiểu vấn đề, đi sâu vào bản chất vấn đề. Tính phê phán của tư duy phát triển, các em không dễ tin như tuổi nhi đồng, 14 đôi khi các em phát hiện ra cái sai của thầy cô, biết nhận xét lời nói của thầy cô, biết đề ra những thắc mắc và muốn được giải đáp đến cùng. Tính độc lập và sáng tạo trong tư duy được hình thành và phát triển cũng là một đặc điểm quan trọng trong sự phát triển tư duy của thiếu niên. Các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, muốn giải quyết bài tập, nhiệm vụ theo những quan điểm, lập luận, cách diễn đạt riêng, không thích rập khuôn như tuổi nhi đồng.
Thiếu niên ưa lập luận và hay cãi lý với người lớn. Tuy nhiên trong tư duy còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn, các em có suy nghĩ nhưng nhiều lúc không thể diễn đạt một cách trôi chảy, thấu đáo những suy nghĩ của mình. Bạn là người đồng tính 1. Khái niệm bạn Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam 2012: “Tình bạn là mối quan hệ thân tình giữa những người gần gũi nhau về tâm hồn, có nhiều điểm hợp nhau, tin nhau, tôn trọng nhau, thông cảm, sẵn sàng giúp đỡ nhau và có khi xả thân vì nhau.” [5] Tình bạn tuổi thơ gắn bó với nhau trên cơ sở hoạt động chung (chơi chung, học chung), đến tuổi thiếu niên, tình bạn trở thành một nhu cầu cấp thiết để giao lưu tâm tình và từ tuổi trưởng thành, tình bạn gắn bó hai hoặc vài người trên cơ sở cùng chung lí tưởng, thế giới quan, hứng thú, nhu cầu, vv.
Trong đó, mỗi người tìm thấy ở bạn mình một cái " tôi " thứ hai lí tưởng. Trong nghiên cứu này chúng tôi dựa trên quan điểm của Bách khoa toàn thư Việt Nam để đưa ra định nghĩa khái niệm bạn như sau: “Bạn là người có mối quan hệ thân tình, gần gũi về tâm hồn, có nhiều điểm hợp nhau, tôn trọng nhau và sẵn sàng giúp đỡ nhau.” Bạn có nhiều đặc điểm khác với người quen. Người quen chỉ người quen biết, không có thân tình, không gần gũi với nhau, không có những điểm chung, và cũng không sẵn sàng giúp đỡ nhau, xả thân vì nhau. Mối quan hệ với người quen thường không bao gồm sự tin tưởng, chỉ dừng lại ở chào hỏi xã giao với nhau.
Người đồng tính Có nhiều định nghĩa, hay sự giải thích khác nhau về đồng tính, hay còn gọi là đồng tính luyến ái. 15 Theo Từ điển tiếng Việt, đồng tính là những người thích quan hệ với người cùng giới tính. [4] Theo Từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng: “Khái niệm ĐTLA do Kara Maria Benkert-bác sĩ người Hungari đưa ra vào cuối thế kỉ XIX để chỉ sự đam mê tình dục của cá nhân đối với người cùng giới và sự quan hệ tình dục giữa họ”. [24] Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ: “Người đồng tính là người cảm thấy hấp dẫn về tình cảm và thể chất với người cùng giới."[9] Tóm lại, hiện nay có nhiều cách hiểu về đồng tính luyến ái, tuy nhiên các quan điểm đều thể hiện sự tương đồng khá rõ.
Chúng tôi sẽ dùng định nghĩa của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ làm định nghĩa chính cho đề tài này. “Người đồng tính là người cảm thấy hấp dẫn về tình cảm và thể chất với người cùng giới.” Có nhiều cách phân loại đồng tính luyến ái.