mở đầu, diễn tiến và kết thúc của tư duy con người với hiện thực khách quan vừa là kết quả của sự phản ánh đó. Khi đã nhận thức được một hiện thực nào đó hay nói cách khác là có nhận thức về bất kỳ một vấn đề nào đó trong cuộc sống, con người lại dùng chính nhận thức đó để tiếp tục tiến hành những quá trình nhận thức mới. Sự nhận biết là nhận thức sơ khai đầu tiên, giúp con người thu được những kết quả nhận thức ban đầu từ thế giới khách quan, là cơ sở để con người tiến hành sự phản ánh cao hơn nhằm thu được sự hiểu biết sâu rộng về sự vật hiện tượng của thế giới. Theo từ điển triết học, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn.
Như vậy, để cải tạo thực tiễn hướng đến việc phục vụ cho cuộc sống, con người không ngừng tìm hiểu, tác động vào thế giới khách quan để có được những nhận thức nhất định về hiện thực khách quan. Với những nhận thức có được về hiện thực khách quan con người tự nguyện tìm hiểu và tác động vào thế giới khách quan với thái độ tích cực và những sáng kiến mới nhằm biến đổi thực tiễn, phục vụ cho cuộc sống ngày càng phát triển của con người. Theo từ điển tâm lý năm 2011 do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên, nhận thức (tiếng Pháp: Connaisance) là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết là hiểu biết thế giới khách quan. Quá trình ấy đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức, diễn ra ở các mức độ [14] + Kinh nghiệm hàng ngày về các đồ vật và người khác, mang tính tự phát, thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống.
+ Khoa học, các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ, có hệ thống với ý 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng – sai. Trong quá trình nhận thức này, những cái sai sẽ dần dần được loại bỏ để con người có được nhận thức đúng đắn về hiện thực khách quan. Theo từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2008) thì nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó [2]… Những quan điểm nêu trên đều có những điểm tương đồng khi định nghĩa về nhận thức. Cụ thể đều xem nhận thức là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan thông qua sự nhận biết và các bước của tư duy.
Sản phẩm của quá trình nhận thức có thể là nhận thức đúng đắn và sai lầm nhưng thông qua sự tích cực và tự giác con người sẽ dần dần loại bỏ cái sai và có nhận thức đúng đắn để cải thiện hiện thực khách quan làm cho nó ngày càng phục vụ cuộc sống con người ngày một tốt hơn. Tác giả Phạm Minh Hạc xem nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, hai mặt còn lại là tình cảm và hành động. Trong khi hoạt động để tồn tại trong thế giới tự nhiên và môi trường xã hội, con người phải nhận thức, phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực của bản thân mình, để trên cơ sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động. Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Kết quả nhận thức có thể cho ra sản phẩm là nhận thức đúng hoặc nhận thức sai, nhận thức từng bộ phận hay nhận thức cái tổng thể, nhận thức một phần hay nhận thức trọn vẹn sự vật hiện tượng, nhận thức thuộc tính bên ngoài hay đi sâu vào bản chất bên trong, dẫn đường tìm ra quy luật và chân lý [13]. Như vậy, theo định nghĩa này cần xác định ba yếu tố: + Thứ nhất, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan. Nếu con người có nhận thức tốt là quá trình phản ánh hiện thực khách quan đúng đắn, đầy đủ. + Thứ hai, nhận thức có mối quan hệ với tình cảm, thái độ.
Tức là khi con 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người nhận thức tốt sẽ chỉ đạo, định hướng, điều khiển tình cảm, và giúp con người tỏ thái độ phù hợp. + Thứ ba, nhận thức có mối quan hệ với hành động. Nghĩa là nhận thức tốt sẽ làm động lực thúc đẩy con người hành động và đạt kết quả tốt. Với mục đích nghiên cứu không nhằm tìm hiểu chuyên sâu về bản chất của nhận thức mà chỉ lựa chọn và chấp nhận một số quan điểm để làm cơ sở lý luận theo hướng nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu xin lựa chọn định nghĩa của tác giả Phạm Minh Hạc để làm cơ sở nghiên cứu vì sự phù hợp của nó với đối tượng nghiên cứu của đề tài và chúng tôi đặc biệt quan tâm và lưu ý đến yếu tố thứ nhất và thứ hai nêu trên vì nó là cơ sở cho hướng nghiên cứu của đề tài và cho thấy được mối quan hệ giữa nhận thức và thái độ của nhóm khách thể đối với đối tượng nghiên cứu.2 Các mức độ của nhận thức Nhận thức là một quá trình tâm lý hết sức đa dạng, phức tạp và được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau.
Hiện nay, trong tâm lý học việc phân chia các mức độ của quá trình nhận thức cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Nhưng quan niệm phổ biến và được dùng rộng rãi nhất là các quan niệm sau: * Quan niệm thứ nhất: Nhận thức được chia làm hai mức độ là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính + Nhận thức cảm tính: quá trình nhận thức cảm tính là giai đoạn thấp của hoạt động nhận thức, tuy đơn giản nhưng nó mang lại những tài liệu đầu tiên cho nhận thức của con người. Nhận thức cảm tính bao gồm quá trình cảm giác và tri giác [12]. (1) Cảm giác: là một quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính, bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người (màu sắc, hình dáng, khối lượng…) Quá trình cảm giác bao gồm 3 khâu như sau: - Khâu 1: kích thích xuất hiện và tác động vào một cơ quan thụ cảm - Khâu 2: Xuất hiện xung thần kinh được truyền theo các dây thần kinh tới não 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khâu 3: Vùng thần kinh cảm giác tương ứng ở vỏ não hoạt động tạo ra cảm giác Ngoài ra, con người còn có những cảm giác từ các kích thích xuất hiện bên trong cơ thể, phản ánh chính các trạng thái cơ thể đang tồn tại (cảm giác đói, cảm giác khát…) (2) Tri giác: là sự phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan.
Hình ảnh của sự vật có được là dựa trên cơ sở của các thông tin do cảm giác đem lại, dựa trên việc tổ chức, sắp xếp các thuộc tính bên ngoài thành một thể thống nhất theo đúng cấu trúc của sự vật, hiện tượng khách quan [12]. Như vậy, cảm giác được coi như là một nguồn cung cấp thông tin đầu vào, còn tri giác là tổ hợp, diễn giải, gán ý cho các thông tin đó. + Nhận thức lý tính: là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Nhận thức lý tính gồm có quá trình tư duy và tưởng tượng.
(1) Tư duy: là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng khách quan mà trước đó ta chưa biết. Xét trên phương diện lịch sử hình thành và mức độ phát triển của tư duy thì có các loại tư duy sau - Tư duy trực quan hành động: đây là loại tư duy xuất hiện sớm nhất về phương diện phát sinh chủng loại cũng như về phương diện phát sinh cá thể. Là loại tư duy mà việc giải quyết các nhiệm vụ được thực hiện nhờ sự cải tổ thực tế các tình huống và nhờ các hành động vận động có thể quan sát được. - Tư duy trực quan hình ảnh: loại tư duy này chỉ có ở con người, đặc biệt là ở trẻ nhỏ.
Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện bằng sự cải tổ tình huống chỉ dựa trên bình diện hình ảnh - Tư duy trừu tượng: là loại tư duy ra đời muộn nhất và chỉ có ở con người. Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được dựa trên việc sử dụng các khái niệm, các kết cấu lôgic, được tồn tại và vận hành nhờ ngôn ngữ. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ba loại tư duy này có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau và chi phối lẫn nhau, trong đó tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình ảnh là cơ sở cho tư duy trừu tượng. (2) Tưởng tượng: là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.
Về nội dung phản ánh, tưởng tượng phản ánh cái mới, những cái chưa từng có trong kinh nghiệm cá nhân hoặc xã hội. Về phương thức phản ánh, tưởng tượng tạo ra cái mới từ các biểu tượng đã có nhờ phương thức chắp ghép, liên hợp, nhấn mạnh, mô phỏng… Về sản phẩm phản ánh của tượng tượng là những biểu tượng mới được xây dựng từ các biểu tượng đã có (biểu tượng của trí nhớ). Biểu tượng của của tưởng tượng mang tính khái quát, biểu tượng của biểu tượng. Tưởng tượng là một quá trình nhận thức lí tính được bắt đầu và thực hiện chủ yếu bằng hình ảnh nhưng vẫn mang tính khái quát và gián tiếp.
Tưởng tượng có quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính, nó sử dụng những biểu tượng của trí nhớ do nhận thức cảm tính mang lại. Tưởng tượng cũng có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn. * Quan niệm thứ hai: Bloom chia lĩnh vực nhận thức thành 6 mức độ hoạt động tri thức, theo một tiến trình liên tục từ dễ đến khó [13]: (1).