CHƯƠNG I TỒNG QUAN TÀI LIỆU 1. BHYT trên thế giời 1.1, Vài nét về sự hình thành BHYT đã xuất hiện đầu tiên từ cuối thế kỷ 19 ở nước Dức, theo đề xuất của Bismarck, Thủ tướng đương thời, Chính phú Đức dã ban hành luật BHYT bát buộc đối với người lao động. Tiếp theo là Ảo, Na Uy, Dan Mạch vả Pháp cũng lần lượt áp dụng BHYT bẳt buộc[5], [33]. Đốn đầu thập kỳ 30 của thể kỳ XX, BHYT bẳt buộc được thực hiện ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển ở châu Âu [33].
Đầu tiên, các mô hình BHYT dều được thực hiện dóng góp bắt buộc theo tỳ lệ nhẩt định của thu nhập vả áp dụng phương thức thanh toán khoản ngân sách cho người cung cấp. Do tính xã hội cùa BHYT, ngày nay BHYT được coi là một công cụ hữu hiệu nhằm đạt mục tiêu chỉnh sách về y tể [29]. Thòi gian ban hành Luật BHYT tại một số nước [33] SỐ TT Tên nước Năm ban hành 1 Cộng hòa Liên bang Dức 1883 2 Cộng hòa Áo 1887 3 Vương quốc Na Uy 1902 4 Vương quốc Anh 1910 5 Cộng hỏa Pháp 1921 6 Liên Xô (cũ) 1935 7. Một số mô hình phát triển BHYT trên thể giới, [5],(61,(37] Đức; Từ năm 1883, Thủ tướng Bismarck đã ban hành luật bào hiểm y tề đầu tiên trên thế giới, luật về chể dộ hưu trí được ban hành chậm hơn 6 năm, vào nãm 1889.
Năm 2002 dân sổ của Đức là 82 triệu người, thu nhập bỉnh quân đầu người ỉà 6 32. Chi phi Chung cho BHYT năm 2002 là 130.6 tỷ EUR, trong đó chi cho diều trị nội trú là 44,8 tỷ EUR, ngoại trú là 32,1 tỷ EUR và 21,1 tỳ EUR chi cho nghi dưỡng sức và các chi phí khác. Tại Đức cỏ nhiều loại hình, nhiều quỳ BHYT khác nhau nhàm dàm bảo nhiều người tham gia, đến năm 1995 có 81 triệu người tham gia bào hiểm y tế, trong đỏ: 72 triệu người mua bảo hiểm công; 7 triệu người mua bào hiềm tư; 2 triệu người theo các chể độ đặc biệt. Áo: Gần giống như Đức, các quỹ bào hiểm y tể dỏng vai trò rất quan trọng đổi vớỉ việc quản lý các hoạt động y tế.
Năm 1994 ngân sách dành cho y tế là 9,7%; chửng tỏ lĩnh vực y tể có tầm quan trọng lớn về xã hội và kinh tế. Bảo hiểm xã hội ở Ảo được lập ra từ năm 1887 được mở rộng dần cho tất cả những người làm công ãn lương vả cho người làm nghề tự do. Năm 1920, một chế dộ riêng cho viên chức ra đời. Mãi cho đển năm 1965 thỉ bảo hiểm y tế mới trở thành bắt buộc đối với người lảm nghề nông.
Nhật Bân: Từ năm 1922 Nhật Bản đã thực hiện chính sách BHYT bắt buộc, tới năm 1961 Nhật Bân mới bắt đầu triển khai thực hiện BHYT toàn dân. Khởi điểm BHYT toàn dân là lúc tại Nhật có GDP 4700USD/nguời/năm. Có hai loại quỹ BIIYT chính đó lả: BHYT quốc gia (national health insurance) vái 45 triệu thành viên tham gia bao gồm người lao động tự do, nông dàn và người không có nghề nghiệp, loại thứ hai là BỈỈYT cùa người làm công ăn lương với khoáng 61 triệu thành viên tham gia. Tuy vậy, sau hơn 40 năm thực hiện BHYT toàn dân, BIIYT Nhật Bản đang đứng trước thừ thách khùng hoảng về tài chính do sự mất cân đổi thu chi.
Hàn Ọuốc: Năm 1977, Hàn Quốc ban hành Luật BHYT bắt buộc toản dân, đển năm 1989 gần 100% người Hàn Quốc cỏ thê BHYT. Tại thời điềm bát đầu BHYT toàn dân, GDP đạt mức 1.500USD bình quân đầu ngườỉ/năm. Tuy vậy, quỷ BHYT cùng lâm vào tình trạng bội chi quỹ BHYT trong những nãm giừa thập kỷ 90. Tại Hàn Quốc cũng có chính sách cấp thẻ BHYT cho người nghèo, năm 1977 7 Cấp được khoáng 3% dân số, 64,5% nguồn thu cùa BHYT do người có BHYT đóng góp và Nhà nước hỗ trợ 13,2%.
Phần còn lại lấy từ nguồn lãi do đầu tư, tăng trưởng. Thông thưởng người ỉao động dóng 2-8% thu nhập, phần còn lại do chù sừ dụng lao động dóng. Công chức dóng 4,2% thu nhập, chính phủ cùng nộp 4,2%. Đổi với người lao động tự do, mức đóng được xểp theo thu nhập hoặc tài sàn cố định.
Sau một khoảng thời gian rơi vào khủng hoảng tàỉ chỉnh ( năm 2001 bội chi khoảng 3 tỷ USD), đến nay , quỹ BHYT Hàn Quốc đã dần dần ổn định Thái Lan: Thái Lan bát dầu thực hiện BHYT bắt buộc vào cuối thập niên 80; đối tượng tham gia BHYTBB lả nhửng người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân. Đen năm 1997 Thái Lan công bố chiến lược BHYT toàn dân khi thu nhập bình quân đàu người vượt quá 2.000ƯSD/người/năm. Tại thời diểm năm 2001 sổ người lao động nông nghiệp chiếm 50% tổng sô 36,7 triệu người trong độ tuổi lao động (tỳ lệ 50% lao động nông nghiệp dự kiến ờ nước ta là đen năm 2010). Theo Văn phòng Chính sách và Kế hoạch, Bộ Y tê Thái Lan cho biết: Trước đây Thái Lan cỏ nhiều quỷ BHYT thuộc nhiều Bộ, Ngành khác nhau như BHYT tự nguyên (Voluntary Health Card Scheme), BHYT cho nông dân và người nghèo thuộc Bộ Y tế, BHYT cho công chức Nhà nước do Bộ Tài Chính quản lý và người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước do ssc - tổ chức BĨIYT quản lý.
Do sự không bền vững của các chương trình BHYTTN nên từ năm 2001 Thái Lan đã dường các chương trình nảy và thay bàng chương trình “ 30 bath” và thực hiện cấp thẻ vảng ( Golden card) đề đảm bảo việc KCB cho khoảng 48 triệu người thuộc diện không tham gia BHYTBB, người có thè này sẽ phải nộp 30 bạt cho mỗi lẩn đi KCB hoặc nằm viện. Năm 2003, Chính phủ đàm bảo ngân sách CSSK với mức 1300 bạt cho mỗi người được cấp thè vàng- PhilỈDÌn: Nâm 1995, Chính phủ đà ban hành luật BHYT toàn dân vào thời điềm thu nhập bình quân dạt gần 2000ƯSD/người/năm. Do ảnh hường cùa cuộc khủng hoảng tải chính trong khu vực, 6 năm qua tại Philipin số người được BHYT chỉ dừng ở mức 40% dân sổ. Theo kế hoạch thỉ thời điểm cuối cùng Philipín phải đạt được độ bao phủ BHYT toàn dân lủ 2010.
Cũng giống như nhiều nước khác, 8 Chính phủ Philipin phải lo hỗ trợ cho khoáng 25 triệu người nghèo, trong khi năm 2000 mới chi có khoảng trên 400.000 ngườĩ nghèo dược hường chế độ BHYT, dến nam 2002 BIIYT Philipin xây dụng kế hoạch 500 (plan 500), với mục tiêu cung cáp thẻ BHYT cho 500.000 gia đình cận nghèo ở các dô thị. Hiện nay tại Phỉlỉpin có 40 triệu/75 triệu người dân có BHYT. Đài Loan; Chính phù Đải Loan công bố chính sách BHYT toàn dân, thực hiện chế độ BHYT bắt buộc từ 1/5/1995 cho tác cà công dân nước mình trong khi số lao động trong khu vực nông nghiệp của Đài Loan chỉ còn khoảng 10%, GNP đạt khoảng 11 .OOOƯSD/người/năm, trừ công chức Nhả nước và tù nhân (được KCB miễn phí), dển cuối năm 1998 đã đạt 96% dân số có BHYT (26,8 triệu người). Người lao động nước ngoài, công dân cư trú dài hạn tại Đài Loan cũng thuộc đối tượng tham gia BHYT bắt buộc.
Mức phí chiếm khoảng 4,25% thu nhập. Mức phí này có thể điều chỉnh nhưng không được vượt quá 6% thu nhập. Tuy vậy, do chi phí y tế tăng lên nhanh, nẫm 1998 đã bộỉ chi 47 triệu USD do đó BHYT tại Đài Loan cũng phài tìm các phương thức thanh toán phù hợp như phương thức cùng chi trả, thanh toán theo định xuất. Trung Quốc: Là một nước có 1,3 tý dân trong đó có 900 triệu người sống ở nông thôn, nguồn tài chính cho y tể ở nông thôn trước đây lả từ cộng đồng (dạng y té hợp tác xã, tài chính y tể dựa vào cộng đồng, CMS ).
Tuy nhiên, người dân nghèo sổng ở nông thôn vẫn đang phài chju gánh nặng về tài cính khí bị ổm đau. Hiện nay hệ thống y tế hợp tác xã nảy đang dược khôi phục lại ở các vùng nông thôn được gọi là CMS mới. Tại Trung Quốc hiện có hai loại hỉnh BHYT, đó là: BIIYT phúc lợi cùa Nhà nưỏc dành cho viên chức Nhà nước dã nghi hưu, BHYT cho người lao động trong các nhà máy, xí nghiệp cấp tỉnh hoặc khu quản lý, tổng sổ người được BHYT theo hinh thức nảy chiểm gần 4% tồng sổ người dân sảng ở nông thôn. Hỉnh thức thứ hai là: BHYT dựa trên hợp dồng có xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi vả trách nhiệm của người tham gia với bên cung ứng dịch vụ BHYT, theo đó có sự đóng góp tài chinh của người dân, cộng đồng và chính quyền địa phương hộ trợ một phần, nhưng quỹ này đỏng góp rất thấp, người dân chỉ được chia sẻ lợi 9 ích tại cộng đồng, công tác quàn ỉý quỳ không chặt chẽ, hiệu quà không cao, dừ vậy đến cuối những năm 90 thì quỹ nảy tan rã.
Ngày 19/10/2002 Trung Quốc quyết định kế hoạc xây dựng ỉại hệ thống y té nông thôn đến năm 2010, trong đỏ cố gang khôi phục lại hệ thống CMS bằng hệ thống CMS mới, dự kiến dển năm 2010 sẽ phù kín hết vùng nông thôn. Theo CMS mới thì sự đóng góp tài chính sẽ như sau: Trung uong cẩp tối thiểu 10 Nhân Dàn Tệ ( NDT) tương đương 1,2 USD, chính quyền địa phương cẩp 10 NDT, người dân góp 10 NDT. Đốn cuối thảng 11/ 2004 chương trình CMS mới dã bao phủ được khoảng 68 triệu nỏng dân, chính phủ thu được khoảng 3 tỷ NDT tương đương khoản 360 triệu USD cho chương trình này. Theo Thỏ tưởng Chính phủ Trung Quổc thỉ Trung Quốc sẽ đầu tư nhiều hơn cho các dịch vụ y tể nông thôn.
Hệ thống CMS sẽ bao phủ tẩt cà nông thôn Trung Quốc vào năm 2010. Mỹ: Theo thông bảo của Bộ Y té Mỳ ngày 30/9/2002 đến năm 2002 tại Mỹ có khoảng 41 triệu người dân Mỹ không có BHYT, cuối thảng 9/2002 Bộ Y tể Mỹ đã đề nghi lĩạ nghỉ viện Mỹ thõng qua kế hoạch của Tồng thống Mỳ nhằm tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho những gia đình người Mỹ không có BHYT. Trong kế hoạch của Tổng thống Bush đê nghị nSm 2003 tăng ngân sách y tế để tăng tiếp cận dịch vụ y tế cùa người dân, với các nội dung: - Thẻ tín dụng sửc khoẻ: cẩp thẻ tín dụng sức khỏe cho người không có thè BHYT; chương trình nảy sê giúp cho khoảng 6 triệu người hiện không có thẻ BHYT. - Mở rộng chương trinh BHYT cho trê em.
- Tăng cường chương trinh BHYT cho người nghèo thông qua Medicaid chương trinh này đã cấp được 2 triệu thẻ BIỈYT cho người nghèo và 6 triệu thè cho ưè em.