mở đầu để đi đến hôn nhân. Điều này thể hiện ở chỗ thời gian trung bình một cặp trai gái sống chung với nhau không kết hôn là một năm. Chính phủ Thủy Điển đã trung lập giữa hai hình thức sống chung có giá thú và không có giá thú. Theo đó, nhà nước có những chính sách nhằm ủng hổ và khuyến khích cho xu hướng không cưới hỏi.
Chẳng hạn như ở Thụy Điển, chính phủ nước này có khoản trợ cấp cho vợ chồng không cưới hỏi, không khấu thuế để nuôi dưỡng con cái và không có tình trạng các cặp cùng khai thuế thu nhập chung với nhau. Đồng thời đứa trẻ sinh ra từ những cặp sống chung không đăng ký cũng có quyền như những đứa trẻ của những cặp hôn nhân có giá thú [3; tr 1-4]. Tại các quốc gia Châu Á, nghiên cứu về sống thử là một chủ đề được nhiều nhà khoa học, các chuyên gia, và giới trẻ nói chung quan tâm. Tại Trung Quốc, các cuộc tranh luận của sinh viên trên một số báo điện tử về quyền được quan hệ tình dục, quyền được chung sống trước hôn nhân đã dấy lên phong trào sống chung và trở thành một của giới trẻ Trung Quốc, đặc biệt là tầng lớp sinh viên.
“Thanh niên Trung Quốc hiện đại không còn gò ép theo những giá trị truyền thống nữa. Tỷ lệ thanh niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng đáng kể và vấn đề này trở thành chủ đề chính cho những cuộc tranh luận. Các chuyên gia và giới lãnh đạo rất đau đầu về hiện tượng này và cho rằng đây là một hiện tượng không lành mạnh” (Lưu Phương Thảo (2007), tr. Sống chung trước hôn nhân cũng đang gia tăng ở hai quốc gia Đông Nam Á là Indonesia và Philipine - nơi xã hội có nền văn hóa và tôn giáo truyền thống chống lại hành vi sống chung trước hôn nhân.
Chẳng hạn, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Indonesia là quốc gia có số lượng tín đồ theo đạo hồi lớn nhất thế giới. Hệ thống giáo lý hồi giáo không cho phép nam, nữ sống chung khi chưa có sự chứng kiến của đấng tối cao. Mặc dù vậy, làn sóng sống chung trước hôn nhân vẫn không ngừng tăng nhanh trong giới trẻ. Nó được nhiều người biết đến nhưng vẫn không được xã hội chấp nhận [8].
Chính phủ Indonesia đã lên tiếng và phản kháng bằng cách trừng phạt thẳng tay đối với người tham gia sống chung. Phát biểu nhân ngày Gia đình Quốc gia, ngày 3 tháng 7 năm 2005, Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono kêu gọi thanh niên nước này “đừng bắt trước kiểu sống của nước ngoài”: nam, nữ sống chung mà không có hôn nhân. Ông nhấn mạnh lối sống này vẫn được xem là “hành vi ô nhục” đi ngược lại chuẩn mực xã hội và tôn giáo của đất nước. “Tôi vẫn giữ ý kiến rằng chúng ta nên bảo vệ và duy trì những nguyên tắc và giá trị gia đình mãi mãi” (Lưu Phương Thảo (2007), tr.
Ở quốc gia láng giềng như Việt Nam hiện nay, có rất nhiều bài báo phản ánh các chiều cạnh khác nhau. Tác giả luận văn đã tìm đọc hơn 60 bài báo gồm cả báo in, báo mạng và các bài viết tạp chí chuyên ngành. Qua đó, có thể thấy phần lớn các bài viết (42/65 bài) phản ánh chủ yếu theo góc độ tiêu cực, nhìn nhận sống thử như một tệ nạn xã hội, cần phải lên án và kêu gọi các bạn trẻ nên nói “không” với sống thử. Một bài báo đã viết: "Khảo sát trong năm 2006 của Vụ Văn hóa, Ban tư tưởng- văn hóa Trung ương.
cho thấy trong số 13 biểu hiện chưa tốt của SV, đứng đầu là không chịu học hành, xin điểm và quay cóp, tiếp đến là “sống thử trước hôn nhân”. Các tác giả này chủ yếu tập trung phân tích những tình huống cụ thể với các kết cục không tốt đẹp của cuộc sống không có ràng buộc pháp lý này. Đặc biệt hậu quả xấu luôn nặng nề cho phái nữ với tình trạng nạo phá thai ngày càng gia tăng. Bài viết của Bích Thủy trên báo Phụ nữ Việt Nam đã đưa ra số liệu như sau: “một trung tâm ở thành phố Huế cung cấp: trong năm 1999, tổng số người đến nạo hút 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thai là 1.546 trường hợp, riêng độ tuổi vị thành niên, thanh niên trẻ (từ 18-24 tuổi) là 96 trường hợp, chiếm tỉ lệ 6,2%.
Nhưng đến năm 2003, số người đến nạo phá thai giảm xuống còn 965 nhưng vị thành niên, thanh niên tre lại có 170 trường hợp chiếm tỉ lệ 17,6% trong đó phần lớn là những trường hợp chưa có gia đình và tập trung ở nhiều lứa tuổi sinh viên. Không phải chỉ đến một lần, thậm chí có trường hợp nạo phá thai đến lần thứ hai, thứ ba. Lần đầu họ đến với thái độ sợ sệt, còn những lần sau họ xem đó như là chuyện bình thường”. Số ít hơn là các bài viết còn lại bày tỏ thái độ khách quan hơn, cho rằng sống thử là một xu hướng tất yếu của cuộc sống hiện đại và nên có cái nhìn thân thiện hơn với lối sống này, bởi cũng có những cặp từng sống thử vẫn tiến đến hôn nhân hạnh phúc.
Họ phân tích sống thử theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực và thường đưa ra kết luận bỏ ngỏ như: “Sống thử” để có một cuộc sống thật thì điều không đáng trách, nhưng “sống thử” để trả giá thật thì cần phải suy nghĩ lại. Bài viết “Xu hướng sống thử của thanh niên Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Hoa đăng trên Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới, số 2/2007 đã đưa ra bức tranh khái quát về xu hướng sống thử đang trở nên phổ biến trong giới thanh niên Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích số liệu của các cuộc khảo sát, các diễn đàn và các bài viết trên báo điện tử nhằm thu thập ý kiến, quan niệm của thanh niên về vấn đề sống thử. Đứng trên quan điểm nhìn nhận sống thử như một trào lưu tiêu cực mang lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho bản thân thanh viên và cho xã hội, tác giả cho rằng, cần có sự hạn chế, điều chỉnh, can thiệp và quan tâm từ phía gia đình, nhà trường và cộng đồng.
Nghiên cứu về “Nhận thức của sinh viên về vấn đề sống thử” (nghiên cứu trường hợp Đại học Tây Bắc) của An Thị Hồng Hoa (2013), Luận văn Thạc sỹ Xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu nhận thức của sinh viên về sống 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thử trên các khía cạnh về quan niệm của sinh viên về vấn đề sống thử; nguyên nhân dẫn đến sống thử trong sinh viên; các yếu tố tác động đến nhận thức của sinh viên về vấn đề này bao gồm các yếu tố thuộc về cá nhân, gia đình và từ phía xã hội. Trên cơ sở của nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị có định hướng đến các môi trường như gia đình, nhà trường, chủ nhà trọ, các cơ quan quản lý trong việc nâng cao nhận thức cho sinh viên về sống thử cũng như những hệ quả đi kèm của nó. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nhà trường, các cấp đoàn, hội trong việc giáo dục, định hướng và cung cấp những kiến thức cần thiết và cơ bản về sức khỏe sinh sản, giáo dục giới tính, các giá trị của tình yêu và hôn nhân cho các bạn sinh viên. Nghiên cứu “Sống chung trước hôn nhân của nam nữ sinh viên hiện nay” (nghiên cứu trường hợp Đại học Nông nghiệp Hà Nội) của Nguyễn Đức Chiện (2011), Luận án Tiến sỹ Xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu định tính trên những khách thể là sinh viên nam, nữ đã từng hoặc đang chung sống với bạn tình của mình như vợ chồng.
Đề tài lần lượt làm rõ quan niệm về tình yêu, tình dục và sống chung trước hôn nhân của xã hội Việt Nam, sự biến đổi của những quan niệm trên. Bên cạnh đó, luận án còn phác họa chân dung xã hội của những sinh viên tham gia sống thử thông qua các đặc trưng nhân khẩu học như: nguồn gốc, đặc điểm gia đình; đặc điểm cá nhân; thời gian chung sống và những dự định cho tương lai. Đề cập đến nguyên nhân của sống thử dưới góc nhìn của những người trong cuộc. Từ đó tác giả nhấn mạnh đến những giải pháp cải thiện tình trạng trên đều có liên quan đến các yếu tố từ phía cộng đồng xã hội.
Những nghiên cứu về sống chung trước hôn nhân tại Lào Cùng với quá trình hội nhập, đất nước Lào đã giao lưu, du nhập rất nhiều những yếu tố văn hóa mới, lối sống hiện đại mới từ các nước bên ngoài đặc biệt là các nước phương Tây, văn hóa sống thử cũng du nhập theo con đường 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này vào Lào. Vì nó mới lạ nên trở thành đề tài nóng hổi được bàn luận sôi nổi trên các phương tiện truyền thông như báo chí, internet và thu hút được sự chú ý của nhiều người, nhất là giới trẻ, nghiễm nhiên nó trở thành một trào lưu. Tuy nhiên, dưới góc nhìn văn hóa phương Đông, phần lớn người Lào khó chấp nhận trào lưu sống thử này. Nó bắt đầu bị xã hội lên án, phê phán.
Các buổi hội thảo “Sống thử nên hay không?” được tổ chức khắp nơi, được phát sóng trên truyền hình nhằm tuyên truyền lối sống lành mạnh, giáo dục vấn đề giới tính và sức khỏe sinh sản cho giới trẻ. Điều đó chỉ làm mất đi tính trào lưu của nó vì hiện nay không ai cảm thấy xa lạ khi nhắc đến sống thử. Qua các cuộc khảo sát trên mạng, chúng ta vẫn thấy hơn 50% số người đồng ý sống thử, chứng tỏ lối suy nghĩ của người Lào đã thoáng hơn, coi sống thử là một lối sống hiện đại chứ không phải là một tệ nạn như xã hội đã lên án. Nghiên cứu vấn đề về sống thử ở Lào nhìn chung chưa nhiều và cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này một cách sâu sắc.
Chỉ có một số một vài công trình, bài báo nhắc tới một vài vấn đề có liên quan như: “ Nhận thức của giới trẻ thành Phố và giới trẻ nông thôn về vấn đề hôn nhận và việc sống chung trước hôn nhân” của TS. Khammany Soulideth trong bài báo Vientiane Time. Trong bài viết này tác giả đề cập đến sự khác nhau trong nhân thức của thanh niên Thành phố và nông thôn, vấn đề trước kết hôn và công việc trước khi kết hôn.