Tổng quan nghiên cứu

Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Anh thí điểm cấp trung học phổ thông được chính thức triển khai theo Quyết định số 5209/QĐ-BGDĐT ban hành ngày 23/11/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020. Bộ sách giáo khoa tiếng Anh mới dành cho lớp 10, lớp 11 và lớp 12 được biên soạn theo định hướng giao tiếp, trong đó hợp phần Looking back and Project ở cuối mỗi bài học trong tổng số 10 đơn vị bài học mỗi năm đã đưa phương pháp học tập theo dự án trở thành một nội dung giảng dạy chính khóa. Việc chuyển đổi từ phương pháp truyền thụ một chiều sang học tập qua dự án đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tìm hiểu nhận thức sư phạm của đội ngũ giáo viên trực tiếp đứng lớp, bởi niềm tin và nhận thức của họ có tính chất quyết định đối với hành vi giảng dạy thực tế.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là khảo sát toàn diện nhận thức của giáo viên trung học phổ thông về định nghĩa, lợi ích của việc học theo dự án đối với học sinh trên các khía cạnh tạo động lực, nâng cao bốn kỹ năng ngôn ngữ, rèn luyện tính tự chủ và kỹ năng làm việc nhóm, đồng thời nhận diện rõ nét vai trò của người dạy cùng những thách thức thực tế trong quá trình triển khai. Phạm vi khảo sát được thực hiện tại 9 trường trung học phổ thông thuộc 5 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định và Vĩnh Phúc trong năm học 2016 - 2017. Về mặt học thuật và thực tiễn, công trình mang lại giá trị định lượng xác thực khi có tới 76,7% giáo viên tham gia khảo sát sở hữu trên 10 năm kinh nghiệm giảng dạy và 100% đạt trình độ năng lực ngôn ngữ chuẩn C1 theo Khung tham chiếu châu Âu, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng giúp các nhà quản lý giáo dục tối ưu hóa phương pháp giảng dạy tiếng Anh tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết nhận thức của giáo viên được Simon Borg phát triển vào các năm 2003 và 2006. Khung lý thuyết này khẳng định nhận thức sư phạm là một cấu trúc tâm lý phức hợp bao gồm niềm tin, tri thức, thái độ và giá trị được tích lũy qua thời gian, đóng vai trò như một bộ lọc định hình mọi quyết định lập kế hoạch cũng như phương pháp tương tác của giáo viên trên lớp học.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết dạy học theo dự án của các học giả hàng đầu như Thomas (năm 2000), Hedge (năm 1993, 2000) và Stoller (năm 2007). Mô hình này xác định việc học qua dự án là chuỗi các nhiệm vụ phức hợp xoay quanh các câu hỏi hoặc vấn đề thực tiễn, đòi hỏi người học phải tự chủ tìm tòi, hợp tác và tạo ra các sản phẩm xác thực. Luận văn vận dụng năm khái niệm nền tảng bao gồm:

  • Nhận thức giáo viên: Hệ thống tri thức và niềm tin ngầm định chi phối hành vi dạy học.
  • Dạy học theo dự án: Phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, tổ chức bài học xoay quanh các dự án thực tế.
  • Tính tự chủ của người học: Khả năng học sinh tự chịu trách nhiệm, lập kế hoạch và điều chỉnh tiến trình học tập cá nhân.
  • Năng lực giao tiếp ngôn ngữ: Khả năng vận dụng tích hợp kiến thức ngôn ngữ vào bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong ngữ cảnh thực.
  • Vai trò người hướng dẫn: Sự chuyển dịch vị thế của giáo viên từ người truyền thụ sang người định hướng, hỗ trợ và đánh giá quá trình.

Phương pháp nghiên cứu

Công trình áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp đồng thời kỹ thuật định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu của dữ liệu. Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng bao gồm 30 giáo viên tiếng Anh đang trực tiếp giảng dạy chương trình sách giáo khoa thí điểm tại 9 trường trung học phổ thông ở cả khu vực thành thị lẫn nông thôn. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích được áp dụng dựa trên tiêu chí giáo viên đều đạt chuẩn năng lực tiếng Anh bậc C1 và có sự đa dạng về thâm niên công tác.

Công cụ thu thập dữ liệu chính gồm bảng hỏi khảo sát 40 câu hỏi được thiết kế theo khung đo lường của Dornyei (năm 2003) và phỏng vấn bán cấu trúc với các giáo viên đại diện. Dữ liệu định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 thông qua các chỉ số thống kê mô tả như giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và tần suất. Thang đo nhận thức 23 biến quan sát đạt hệ số tin cậy Cronbach's Alpha là 0.907 và thang đo 11 biến quan sát về thách thức đạt hệ số 0.915. Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2017. Việc kết hợp bảng hỏi diện rộng với phỏng vấn sâu giúp đối chiếu chéo thông tin, làm sáng tỏ nguyên nhân sâu xa đằng sau các con số thống kê.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, giáo viên thể hiện nhận thức chuẩn xác về bản chất của phương pháp học theo dự án. Có 50% giáo viên (14 trên tổng số 28 người phản hồi câu hỏi định nghĩa) xem đây là phương pháp đặt giáo viên vào vai trò người hỗ trợ và học sinh làm việc nhóm giải quyết vấn đề, trong khi 46,4% nhấn mạnh khía cạnh học sinh tự lập kế hoạch và nghiên cứu để hoàn thành dự án.

Thứ hai, phương pháp học theo dự án tạo ra sự đột phá rõ nét đối với kỹ năng nói và vốn từ vựng của học sinh. Đánh giá về sự tiến bộ ngôn ngữ ghi nhận kỹ năng nói đạt điểm trung bình cao nhất là 4.60 trên thang điểm 5.0 (độ lệch chuẩn 0.504), theo sát là mức độ mở rộng từ vựng với điểm trung bình 4.50 (độ lệch chuẩn 0.504) và kỹ năng đọc đạt 4.23 (độ lệch chuẩn 0.714). Trái lại, kỹ năng viết chỉ đạt điểm trung bình 3.93 và kỹ năng nghe đạt 3.77.

Thứ ba, học tập qua dự án thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần làm việc nhóm và khả năng tự học. Các chỉ số về phát triển kỹ năng làm việc nhóm và tìm kiếm kiến thức bên ngoài lớp học đều ghi nhận mức điểm trung bình vượt trội là 4.40 và 4.43. Đa số giáo viên khẳng định học sinh chủ động và gắn kết hơn với bạn bè trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện các rào cản ngoại cảnh có tác động tiêu cực vượt trội so với rào cản nội tại của giáo viên. Trên thang đo mức độ thách thức từ 1 đến 4, sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, phòng máy tính và tài liệu bổ trợ là trở ngại lớn nhất với điểm trung bình 3.13 (có tới 28 trên 30 giáo viên xem đây là thách thức từ nhỏ đến lớn). Thách thức về quỹ thời gian chuẩn bị và thời lượng thực hiện của học sinh xếp ngay sau với điểm số lần lượt là 3.03 và 3.07. Ngược lại, năng lực chuyên môn của giáo viên như kỹ năng hướng dẫn (điểm trung bình 2.00) hay quản lý nhóm (điểm trung bình 2.07) không bị coi là rào cản đáng kể.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của kỹ năng nói (điểm trung bình 4.60) so với kỹ năng viết (3.93) và nghe (3.77) phản ánh đúng thực tế tổ chức lớp học dự án tại các trường phổ thông. Dữ liệu phỏng vấn sâu chỉ ra rằng học sinh thường xuyên phải thuyết trình sản phẩm trước tập thể nên kỹ năng nói tiến bộ nhanh chóng. Tuy nhiên, ở kỹ năng viết, tình trạng sao chép nguyên văn thông tin từ Internet mà không tự diễn đạt lại vẫn diễn ra phổ biến. Đồng thời, không khí sôi nổi khi các nhóm làm việc đôi khi gây ồn ào, làm giảm chất lượng luyện nghe của học sinh. Kết quả này tương đồng với các kết luận của Beckett (năm 1999) và Wilhelm (năm 1999) khi chỉ ra tính hai mặt của việc học dự án giữa tự do sáng tạo và áp lực tải trọng nhiệm vụ.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua một biểu đồ hình mạng nhện biểu diễn sự phân hóa giữa bốn kỹ năng ngôn ngữ, kết hợp với một biểu đồ cột so sánh mức độ ảnh hưởng giữa nhóm yếu tố ngoại cảnh (cơ sở vật chất đạt 3.13 điểm) và nhóm yếu tố năng lực sư phạm nội tại (chỉ ở mức 2.00 điểm). Điều này chứng minh giáo viên hoàn toàn tự tin về mặt chuyên môn sư phạm nhưng đang bị bó buộc bởi điều kiện cơ sở vật chất và phân bổ thời lượng của chương trình.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, bốn nhóm giải pháp mang tính hành động cao được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng triển khai phương pháp học theo dự án:

Thứ nhất, nâng cấp hạ tầng thiết bị và tài nguyên số. Sở Giáo dục và Đào tạo các địa phương cần phê duyệt kinh phí trang bị đồng bộ máy chiếu, mạng Internet không dây và phòng học đa phương tiện cho 100% các trường trung học phổ thông triển khai chương trình thí điểm, hoàn thành trong lộ trình 12 tháng tới nhằm giải quyết triệt để điểm nghẽn cơ sở vật chất có mức độ ảnh hưởng 3.13 điểm.

Thứ hai, tái cấu trúc phân bổ thời lượng và giảm tải chương trình. Ban giám hiệu các trường và tổ chuyên môn cần linh hoạt ghép các tiết học đơn 45 phút thành các tiết học đôi 90 phút hoặc bố trí chu kỳ thực hiện dự án kéo dài từ 2 đến 3 tuần ngoài giờ lên lớp. Mục tiêu là giúp 100% học sinh có đủ thời gian nghiên cứu sâu mà không bị quá tải trước khi bước vào năm học mới.

Thứ three, chuẩn hóa bộ công cụ đánh giá quá trình và sản phẩm. Giáo viên bộ môn cần xây dựng bảng tiêu chí đánh giá chi tiết (rubrics) kết hợp đánh giá chéo giữa các thành viên trong nhóm ngay từ đầu học kỳ 1. Giải pháp này nhằm loại bỏ tình trạng học sinh ỷ lại vào bạn cùng nhóm, bảo đảm trên 85% học sinh trong mỗi lớp tham gia đóng góp thực chất vào sản phẩm chung.

Thứ tư, đẩy mạnh bồi dưỡng chuyên môn về phương pháp hướng dẫn dự án. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các trường đại học ngoại ngữ tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn thường niên mỗi năm. Nội dung tập trung vào kỹ năng phân hóa đối tượng học sinh có trình độ không đồng đều và phương pháp hướng dẫn học sinh tổng hợp tài liệu nhằm ngăn chặn tình trạng sao chép thông tin.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

Cán bộ quản lý giáo dục tại các Sở và Phòng Giáo dục và Đào tạo: Nắm bắt chính xác những khó khăn thực tế về cơ sở vật chất mà 93,3% giáo viên phản ánh, từ đó xây dựng kế hoạch đầu tư trang thiết bị giảng dạy và điều chỉnh khung phân phối chương trình tiếng Anh hợp lý hơn.

Giáo viên tiếng Anh cấp trung học phổ thông: Khai thác các bài học kinh nghiệm về vai trò hướng dẫn, quy trình tổ chức hoạt động dự án và phương thức thiết lập thang điểm đánh giá công bằng cho các nhóm học sinh có năng lực khác nhau trong tiết học 45 phút.

Các nhà biên soạn sách giáo khoa và phát triển chương trình: Tham khảo dữ liệu để hoàn thiện các chủ đề trong phần Project của bộ sách giáo khoa hệ 10 năm, bổ sung hệ thống bài mẫu và hướng dẫn chi tiết nhằm đáp ứng mong đợi của 93,3% giáo viên về nguồn tư liệu tham khảo chuẩn mực.

Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Giảng dạy tiếng Anh: Kế thừa bộ công cụ đo lường chuẩn hóa có hệ số tin cậy trên 0.90 và khung lý thuyết nhận thức giáo viên của Borg để phục vụ cho các nghiên cứu mở rộng trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp học theo dự án trong sách giáo khoa tiếng Anh mới khác gì so với phương pháp giảng dạy truyền thống? Phương pháp học theo dự án chuyển trọng tâm từ giáo viên sang học sinh, biến người học thành trung tâm của hoạt động tìm tòi và giải quyết vấn đề. Thay vì truyền thụ ngữ pháp thụ động, giáo viên đóng vai trò hỗ trợ với điểm đánh giá nhận thức đạt 4.30 trên 5.0, giúp học sinh tạo ra các sản phẩm giao tiếp thực tế như bài thuyết trình hay báo cáo đa phương tiện.

Tại sao kỹ năng nói tiến bộ vượt bậc nhưng kỹ năng viết lại có sự cải thiện khiêm tốn hơn? Kỹ năng nói đạt điểm trung bình 4.60 nhờ học sinh thường xuyên luyện tập thuyết trình và thảo luận nhóm. Ngược lại, kỹ năng viết chỉ đạt 3.93 do học sinh có xu hướng sao chép trực tiếp tài liệu từ mạng Internet về làm bài thuyết trình mà chưa tự tay biên soạn hay diễn đạt lại ý tưởng bằng ngôn ngữ của chính mình.

Đâu là thách thức lớn nhất đối với giáo viên khi triển khai phương pháp học theo dự án? Thách thức lớn nhất đến từ điều kiện cơ sở vật chất trường học với điểm đánh giá 3.13 trên thang 4.0, khi có tới 28 trên tổng số 30 giáo viên xác nhận gặp khó khăn vì thiếu phòng máy tính, kết nối mạng và tài liệu hỗ trợ. Rào cản lớn thứ hai là sự hạn chế về quỹ thời gian của cả giáo viên và học sinh với điểm số trên 3.03.

Giáo viên làm thế nào để khắc phục tình trạng học sinh yếu ỷ lại vào học sinh khá giỏi khi làm việc nhóm? Giáo viên cần áp dụng bảng tiêu chí đánh giá minh bạch kết hợp chấm điểm quá trình, yêu cầu từng cá nhân phụ trách một phần nhiệm vụ cụ thể và tổ chức đánh giá chéo giữa các thành viên. Trong phỏng vấn, giáo viên khẳng định việc giao quyền tự chủ đi kèm trách nhiệm rõ ràng giúp giảm đáng kể hiện tượng học sinh lơ là nhiệm vụ.

Tính tin cậy của thang đo khảo sát trong nghiên cứu này được bảo đảm ra sao? Toàn bộ dữ liệu định lượng được kiểm định độ tin cậy nghiêm ngặt qua phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Thang đo nhận thức 23 biến quan sát đạt hệ số Cronbach's Alpha là 0.907 và thang đo thách thức 11 biến quan sát đạt 0.915, vượt xa tiêu chuẩn kiểm định học thuật thông thường là 0.70.

Kết luận

  • Đội ngũ giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn C1 thể hiện nhận thức rất tích cực và hiểu rõ bản chất lấy người học làm trung tâm của phương pháp học theo dự án.
  • Nghiên cứu chứng minh phương pháp này tạo bước đột phá cho kỹ năng nói (điểm trung bình 4.60) và vốn từ vựng, đồng thời nâng cao tính tự chủ trong học tập cho học sinh.
  • Rào cản cốt lõi được định vị chính xác nằm ở hạ tầng cơ sở vật chất (điểm thách thức 3.13) và áp lực thời gian của tiết học chứ không phải do năng lực sư phạm của giáo viên.
  • Luận văn đóng góp bộ dữ liệu thực chứng tin cậy cùng thang đo chuẩn hóa đạt hệ số tin cậy trên 0.90 cho chuyên ngành Giảng dạy tiếng Anh tại Việt Nam.
  • Toàn bộ 4 giải pháp đồng bộ cần được triển khai ngay trong năm học tới nhằm tối ưu hóa chất lượng dạy học theo định hướng đổi mới giáo dục toàn diện.

Hãy khai thác ngay tài liệu nghiên cứu này để áp dụng hiệu quả phương pháp học theo dự án vào thực tiễn giảng dạy và quản lý giáo dục ngoại ngữ.