CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần của cộng đồng 1. Lịch sử nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần của cộng đồng Trên thế giới, các nghiên cứu liên quan đến nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về sức khỏe tâm thần bắt đầu được quan tâm từ khoảng những năm 1950 (Star, 1955). Đến năm 1997, tác giả Anthony F.
Jorm định nghĩa Hiểu biết sức khỏe tâm thần (Mental Health Literacy - MHL) là “kiến thức và những quan niệm về các rối loạn tâm thần giúp hỗ trợ cá nhân nhận diện, quản lý và phòng ngừa” [54]. Nói rõ hơn, nó bao gồm khả năng nhận biết các rối loạn tâm thần chuyên biệt; biết cách tìm những thông tin sức khỏe tâm thần; có kiến thức về các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân gây tổn thương sức khỏe tâm thần cũng như các phương cách tìm kiếm sự hỗ trợ và giúp đỡ phù hợp với các phương pháp can thiệp thực chứng có hiệu quả. Từ đó đến nay, các công trình công bố về vấn đề này ngày càng nhiều, điển hình là các tác giả như Loureiro và cộng sự, 2013; Melas và cộng sự , 2013; Mendenhall và Frauenholtz, 2013; Vijayalakshmi và Math, 2013. Trong thời gian qua, họ đã báo cáo những số liệu về nhận thức của bệnh nhân và người chăm sóc về các vấn đề sức khỏe tâm thần trong các cộng đồng người Mỹ, người Thụy Điển, Ấn độ và Bồ Đào Nha.
Các xu hướng nghiên cứu Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan nhận thức của cộng đồng về vấn đề sức khỏe tâm thần thường được chia thành hai hướng tiếp cận. Hiểu biết chung của cộng đồng về sức khỏe tâm thần a) Các nghiên cứu trên thế giới Năm 1988, Rosenstock và cộng sự cũng nói đến Mô hình Niềm tin về sức 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khỏe của có khả năng dự đoán hành vi sức khỏe bằng cách chú ý đến thái độ và niềm tin [80] của cá nhân. Cũng như các vấn đề sức khỏe khác, việc hiểu biết thông tin đúng và chính xác về SKTT, các rối loạn, dấu hiệu và cách điều trị khoa học sẽ giúp mỗi cá nhân tìm kiếm và có được sự điều trị hiệu quả. Do đó, việc định lượng hiểu biết của cộng đồng về SKTT được đặt ra.
Từ đây, có rất nhiều nghiên cứu theo hướng khảo sát hiểu biết về sức khỏe tâm thần đã được tiến hành. Phần lớn các nghiên cứu được triển khai là những nghiên cứu xã hội học điều tra trên diện rộng nhằm tìm hiểu năng lực nhận diện các bệnh tâm thần cụ thể chủ yếu qua việc sử dụng các tình huống giả định về một cá nhân đang mắc dạng rối loạn tâm thần cụ thể nào đó. Những kết quả cho thấy hiểu biết về triệu chứng và độ nặng của các bệnh lý tâm thần liên quan chặt chẽ với sự nhận biết các bệnh lý và các triệu chứng có liên quan và cả hai đều bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi việc thiếu kiến thức và hiểu biết. Nghiên cứu của Jorm và cộng sự (Úc, 1999) cũng cho thấy người dân trong cộng đồng và nhà chuyên môn đều cho rằng người bệnh tâm thần phân liệt thường nghèo khổ và phân biệt đối xử với họ hơn [55].
Có báo cáo (Linhk và cộng sự, 1999) cho thấy hầu hết cộng đồng cho rằng rối loạn tâm thần chính là tâm thần phân liệt (88%) và trầm cảm (69%), họ cũng nhận định nguyên nhân do đa yếu tố, kết hợp giữa hoàn cảnh căng thẳng cùng vấn đề sinh học và di truyền. Tuy nhiên, họ có cách suy nghĩ rập khuôn là người bệnh tâm thần tiềm ẩn sự nguy hiểm về bạo lực và muốn hạn chế sự tiếp xúc xã hội của người bệnh [64]. Có những vùng người dân hiểu biết về sức khỏe tâm thần khá cao như ở 2 làng xã của Israel theo Levav (2004), 75% người tham gia chấp nhận nguyên nhân đa yếu tố của các rối loạn tâm thần và 79% nghĩ rằng chúng có thể được chữa trị. Thế nhưng, việc xác định dạng rối loạn tâm thần cụ thể còn hạn chế, như 43% đối với tâm thần phân liệt và chỉ 10% 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với trầm cảm.
Ngoài ra, họ vẫn có sự kỳ thị và phân biệt đối với người mắc rối loạn tâm thần với 65% từ chối cho người bệnh hồi phục được tham gia cùng họ. Việc sử dụng các dịch vụ sức khỏe tâm thần ở đây chiếm tỉ lệ 38% [63]. Cũng theo hướng tiếp cận này, kết quả của các nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ lệ cộng đồng nhận diện các rối loạn tâm thần còn thấp chỉ 51% gọi đúng “tâm thần phân liệt” và 47% gọi đúng “trầm cảm” như trong nghiên cứu của Klimidis và cộng sự, 2007 [60] hay 65-77% gọi đúng “trầm cảm” đối với người Úc và 22-35% với người Nhật; 17%-33% gọi đúng “tâm thần phân liệt” hoặc loạn thần ở người Nhật và 36%-41% ở người Úc như trong nghiên cứu của Jorm et al. Tuy nhiên, theo Jorm (2006), tín hiệu khả quan là nhận thức về trầm cảm và tâm thần phân liệt của người Úc cao hơn so với 8 năm trước qua việc tăng chọn lựa hỗ trợ của các chuyên gia sức khỏe tâm thần, thuốc, tâm lý trị liệu và việc nhập khoa tâm thần [53].
Như vậy, có hiểu biết tốt về sức khỏe tâm thần ở cộng đồng sẽ dẫn đến những hệ quả tích cực đối với những người có nguy cơ hoặc có vấn đề về SKTT do họ sẽ sớm tìm sự trợ giúp, hoặc ở chính những người có nguy cơ, hoặc người sống xung quanh nhận diện được dấu hiệu của người thân để giúp họ tìm kiếm can thiệp. Do đó, các kết quả nghiên cứu hiểu biết về SKTT có giá trị quan trong trọng việc xây dựng các chương trình dự phòng về SKTT và nâng cao sự hiểu biết này được xem là chiến lược hỗ trợ phát hiện sớm và phòng ngừa các rối loạn tâm thần (Jorm và cộng sự, 2012) [52]. Bên cạnh đó, trong sức khỏe tâm thần còn có khái niệm về “mô hình giải thích” được định nghĩa là “những lưu ý về giai đoạn bệnh và điều trị được thực hiện bởi tất cả những người có liên quan đến tiến trình lâm sàng” (Engehardt, 1974; Kleinman, 1980). Mô hình giải thích này bao gồm nhiều nhiệm vụ: giải thích những dấu báo liên quan văn hóa về trải nghiệm bệnh tật 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của bệnh nhân và cán bộ y tế, cải thiện sự đồng cảm và tuân thủ trị liệu và điều chỉnh khuynh hướng quá nhấn mạnh vào mô hình sinh học về bệnh của cán bộ y tế (Weiss và Somma, 2007).
Những thông tin có được từ các mô hình giải thích có thể phối hợp với các phương pháp trị liệu tâm lý nhằm lồng ghép trị liệu một cách hiệu quả theo kiểu mẫu tâm –sinh-xã hội (Bhui và Bhugra, 2002) [31],[38]. Deribew và Tamirat (2005) cũng phát hiện tương tự trong một nghiên cứu tại Ethiopia và thấy rằng người ta chỉ nhận biết những tình trạng loạn thần nặng là các rối loạn tâm thần. Họ nhận thấy điều trị y khoa hiện đại được đa số người dân chuộng hơn. Một số đáng kể người dân đề nghị hỗ trợ gia đình và chăm sóc tại nhà.
Rõ ràng, người ta thích chăm sóc bệnh nhân bị bệnh tâm thần trong gia đình hơn nhưng sẽ mang bệnh nhân đến bệnh viện tâm thần nếu tình trạng rất nặng (Nguyen, 2003 và Wagner và cộng sự, 2006) [70],[87]. Tuy vậy, điều đáng lưu ý là hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào cộng đồng các nước Âu Mỹ, khá ít nghiên cứu và bằng chứng nói về nhận thức, niềm tin và hiểu biết của cộng đồng các nước phương Đông vốn phần lớn là các nước đang phát triển hoặc có thu nhập thấp-trung bình. Đặc biệt, với khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam thì không có nhiều khảo sát về vấn đề này. Theo thống kê của WHO thì năm 2001 có khoảng 450 triệu người trên toàn thế giới mắc một trong các rối loạn tâm thần kinh và tỉ lệ này chia đều cho các nước phương Tây và phương Đông [74].
Theo một số tác giả nghiên cứu, tỉ lệ mắc các rối loạn tâm thần ở các nước đang phát triển có lẽ còn cao hơn phương Tây do tác động của các vấn đề kinh tế xã hội như thu nhập thấp, trình độ dân trí thấp, hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần chưa phát triển [47]. Ngay cả ở các em học sinh trung học mà kiến thức về các vấn đề sức khỏe tâm thần còn rất thấp cũng như thái độ tiêu cực và có khoảng cách với người mắc rối loạn tâm thần [42]. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Gần đây, ngày càng có thêm nhiều công trình nghiên cứu khảo sát về các vấn đề này ở Châu Á. Tại Ấn Độ, trong nghiên cứu của Shankar và cộng sự (2006) cho thấy 69% cộng đồng tham gia có các triệu chứng về tâm lý và 31% biểu hiện triệu chứng cơ thể, 51% tự nhận định mức độ ảnh hưởng từ nhẹ đến trung bình và 30% tin rằng không có cách điều trị, 36% tin rằng vấn đề của họ do bị quả báo; Kermode và cộng sự (2007) báo cáo nghiên cứu cho thấy cộng đồng xác định nguyên nhân của bệnh lý tâm thần gồm các vấn đề mối quan hệ gia đình, có nhiều con gái mà không có con trai, quá nhiều con, không có tự do, không có thu nhập độc lập, bạo hành, mùa màng thất bát và hạn hán; James và cộng sự (2002) cho thấy có mối liện hệ chặt chẽ giữa các hành vi tìm kiếm sức khỏe, hiểu biết của dân số địa phương và việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Ấn Độ và Pakistan [31].
Ngoài ra, cộng đồng còn cho rằng mắc bệnh tâm thần có nghĩa là bệnh nguy hiểm và yếu đuối [59]. Vì vậy, cần có thêm nhiều các công trình và bằng chứng nghiên cứu về vấn đề này ở các nước Phương Đông và các nước trong khối ASEAN, đặc biệt là ở Việt Nam. b) Các nghiên cứu trong nước: Nghiên cứu về khả năng hiểu biết các vấn đề sức khỏe tâm thần trên cộng đồng người Việt đang sống tại Việt Nam chưa được lưu tâm nhiều cũng như chưa được khảo sát bài bản và có hệ thống. Một số ít các nghiên cứu đã được thực hiện với quy mô còn nhỏ nên tính đại diện còn chưa cao, tập trung ở các phương diện hoặc năng lực nhận diện các biểu hiện của vấn đề sức khỏe tâm thần hoặc các nguyên nhân/ yếu tố nguy cơ được nhận biết hoặc hiểu biết về các loại hình can thiệp và hiệu quả can thiệp.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.