Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ 5 chồng khi ly hôn tại Thành phố Hà Nội. Thực tiễn áp dụng các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Thành phố Hà Nội. Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Thành phố Hà Nội.
6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Khái niệm nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn Về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại các Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và được hướng dẫn thi hành tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Trong các văn bản pháp luật trên không có quy định về khái niệm nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn, trong quá trình tìm hiểu và phân tích các quy định pháp luật về nguyên tắc này, tác giả đưa ra khái niệm về nguyên tắc: “Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn là hệ thống các nguyên tắc quy định đòi hỏi việc phải tuân thủ theo đúng trình tự trong việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Khi áp dụng các nguyên tắc cần phải thực hiện theo đúng các trình tự và cần tuân thủ theo các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các nguyên tắc này”.
Nội dung nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn Một là, giải quyết theo chế độ tài sản của vợ chồng. Khi giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì bao giờ tài sản cũng được giải quyết theo thỏa thuận của vợ chồng trước, sau đó mới giải quyết tài sản theo luật định. Điều này được quy định tại khản 1 của Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khản 1 của Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016, hai quy định này thể hiện việc tôn trọng quyền lựa chọn của các đương sự trong vấn đề giải quyết tài sản khi ly hôn. Khi mà văn bản thỏa thuận của vợ chồng có quy định về việc chia tài sản chung mà thỏa thuận này hợp pháp thì đương nhiên, việc giải quyết tài sản sẽ được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.
7 Nếu trong trường hợp văn bản thỏa thuận không nêu đầy đủ, nêu không rõ thì tài sản được giải quyết theo thỏa thuận đã quy định trước đó, còn về phần tài sản không được thỏa thuận thì sẽ được giải quyết theo luật định. Trong trường hợp mà vợ chồng không có văn bản thỏa thuận hoặc có văn bản thỏa thuận mà văn bản này bị tòa án tuyên bố vô hiệu thì giải quyết tài sản sẽ không được giải quyết theo thỏa thuận nữa mà sẽ được giải quyết theo luận định. Hai là, chia tài sản bằng hiện vật. Khi mà việc giải quyết tài sản theo thỏa thuận không thành thì việc giải quyết tài sản sẽ được thực hiện theo luật định.
Về nguyên tắc việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn sẽ được chia đôi và được chia bằng hiện vật. Trong quá trình xét xử, tòa án sẽ tiến hành chia tài sản chung bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì sẽ chia theo giá trị của tài sản. Trước khi tiến hành chia tài sản tòa án sẽ thẩm định, đánh giá giá trị của tài sản bằng hiện vật theo giá trị của thị trường tại thời điểm giải quyết tài sản để xác định tổng giá trị tài sản cần giải quyết và sự chêch lệch giữa giá trị tài sản bằng hiện vật so với giá trị tài sản khác. Khi một bên nhận được hiện vật có giá trị lớn hơn phần giá trị tài sản còn lại thì sẽ tiến hành việc thanh toán giá trị chêch lệch cho bên còn lại nhằm đảm bảo tính công bằng khi giải quyết tài sản.
Ba là, không chia tài sản riêng. Đối với tài sản riêng của vợ chồng khi tiến hành giải quyết tài sản khi ly hôn thì phần tài sản riêng này thuộc quyền sở hữu của ai vẫn sẽ thuộc quyền sở hữu của người đó mà không tiến hành chia. Trong trường hợp mà tài sản riêng được nhập vào tài sản chung theo thỏa thuận của vợ chồng thì khi giải quyết tài sản, tài sản riêng này đã là tài sản chung, tòa án tiến hành việc giải quyết tài sản theo quy định. Nếu trong trường hợp tài sản riêng bị trộn lẫn với tài sản chung mà không có thỏa thuận về việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung thì khi giải quyết tài sản mà vợ chồng có yêu cầu tách tài sản riêng và tài sản chung ra thì sẽ được giải quyết phần tài sản riêng đã trọn lẫn với tài 8 sản chung.
Nếu vợ chồng có thỏa thuận vẫn giữ nguyên tài sản và coi tài sản riêng trộn lẫn đó là tài sản chung thì tòa án chia tài sản chung theo quy định mà không tách tài sản riêng với tài sản chung. Bốn là, bảo vệ quyền và lợi ích hợp phá của các đối tượng khác. Khi tiến hành giải quyết tài sản của vợ chồng, tòa án cần xem xét về việc bảo vệ quyền và lợi ích của các đối tượng khác có liên quan đến vụ án, ở đây là đối tượng con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc những người phụ thuộc khác mà không có khả năng tạo ra thu nhập. Trong thời kỳ hôn nhân, đương nhiên việc chăm sóc và đảm bảo đời sống của những đối tượng này thuộc nghĩa vụ của vợ, chồng.
Hai người sẽ cùng chăm sóc, bảo đảm đời sống cho những đối tượng này, tuy nhiên, khi ly hôn, tòa sẽ tiến hành việc giải quyết con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự cho vợ hoặc chồng là người trực tiến nuôi dưỡng. Khi tiến hành việc giải quyết tài sản, tòa án cần căn cứ theo việc vợ hoặc chồng là người nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên trực tiếp mà chia tài sản là bất động sản (nếu có) cho người đó để đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự. Nếu không có tài sản là bất động sản thì tòa án cần giải quyết tài sản khác sao cho đảm bảo được nhu cầu cơ bản về chăm sóc và nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, đồng thời bên vợ hoặc không không trực tiếp nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự cần thực hiện việc cấp dưỡng để bảo đảm điều kiện cơ bản về nuôi dưỡng. Các yếu tố ảnh hƣởng đến nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn Trong quá trình giải quyết tài sản khi ly hôn, tòa án sẽ cần cân nhắc đến các yếu tố khác để đảm bảo được tối đa quyền và lợi ích của mỗi bên.
Trong đó có các yếu tố về hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, lợi ích chính đáng và lỗi 9 của mỗi bên khi giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng. Về hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng là tình trạng về điều kiện kinh tế, năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, sức khỏe, khả năng lao động của mỗi bên và các thành viên khác trong gia đình mà vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ về nhân thân và về tài sản. Vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân có sức khỏe, khả năng lao động, khả năng kinh tế khác nhau.
Sau khi ly hôn, cuộc sống của họ có sự thay đổi nhất định. Vợ và chồng có khả năng tạo ra thu nhập để phục vụ nhu cầu cơ bản của đời sống không? Vợ, chồng có sức khỏe đảm bảo duy trì, ổn định được cuộc sống sau khi ly hôn không? Khả năng kinh tế sau khi ly hôn có đáp ứng được nhu cầu cuộc sống không? Năng lực pháp luật và năng lực hành vi có bị ảnh hưởng sau khi ly hôn không? Những yếu tố này đều gây ảnh hưởng tới quyết định của tòa án. Khi giải quyết tài sản tòa án cần cân nhắc được đúng, đầy đủ và phù hợp với với hoàn cảnh của mỗi bên để tiến hành phân chia tài sản theo tỷ lệ hợp lý. Bên có hoàn cảnh khó khăn hơn sẽ được chia phần tài sản lớn hơn bên còn lại, để đảm bảo cuộc sống sau khi ly hôn của họ được ổn định.
Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Về công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung là sự đóng góp về công sức lao động, mức thu nhập của vợ và chồng. Trong mỗi quan hệ hôn nhân thì mức độ, tỷ lệ đóng góp của vợ, chồng vào tài sản chung là khác nhau. Điều này phụ thuộc chủ yếu vào sức khỏe, khả năng, năng lực, trình độ của vợ, chồng.
Đối với đóng góp về mức thu nhập được thể hiện bằng hình thức tiền thì việc xác định mức độ đóng góp vào tài sản chung là rất dễ, từ bảng lương, khoản tiền khác mà tòa án có thể căn cứ vào đó 10 để xác định được công sức đóng góp là nhiều hay ít. Đối với đóng góp là công sức được thể hiện bằng việc chăm lo nhà của, con cái, chăm lo cho đời sống của gia đình thì việc tòa án xác định mức đóng góp vào tài sản chung sẽ gặp khó khăn nhất định. Khi xét xử, tòa án cần xác định rõ ràng, chính xác về mức độ của công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân của vợ và chồng vào tài sản chung, để từ đó xác định được việc chia tài sản chung như thế nào cho phù hợp. Tất nhiên người nào có mức độ đóng góp nhiều nhất sẽ được chia tài sản chung nhiều hơn để đảm bảo được quyền lợi của mỗi bên khi giải quyết tài sản.
Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.