Nguyên Tắc Công Bằng Trong Pháp Luật Hợp Đồng: Thúc Đẩy Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng, thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật

2018

131
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG TRONG PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG

1.1. Nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng

1.2. Các nguyên tắc trong giao kết hợp đồng

1.3. Xu hướng phát triển của nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng

1.4. Nguồn gốc nhu cầu và khả năng xác định công bằng

1.5. Từ tự do đến công bằng trong nguyên tắc giao kết hợp đồng

1.6. Xác định công bằng

1.7. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: CÔNG BẰNG VÀ TỰ DO HỢP ĐỒNG

2.1. Hai vấn đề về tự do hợp đồng

2.2. Tự do ý chí trong giao kết hợp đồng (vấn đề 01)

2.3. Giới hạn tự do hợp đồng (vấn đề 02)

2.4. Sự tương thích, khả năng đảm bảo tự do hợp đồng với các tiêu chí công bằng

2.5. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG VỚI NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG VÀ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DNNVV TẠI VIỆT NAM

3.1. Pháp luật về hợp đồng và chức năng kinh tế

3.2. Nguồn gốc và bản chất

3.3. Vai trò và ý nghĩa

3.4. Nguyên tắc công bằng với bất cân xứng vị thế giao dịch và Chính sách công về DNNVV

3.5. Tồn tại và khắc phục bất cân bằng vị thế giữa DNNVV và DN lớn hơn

3.6. Chính sách phát triển DNNVV và pháp luật hợp đồng của Việt Nam

3.7. Kết luận Chương 3

3.8. Thúc đẩy phát triển DNNVV bằng một nguyên tắc pháp luật

3.9. Nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng

3.10. Bất cân xứng vị thế giao dịch và ứng dụng một đạo luật

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

XUẤT BẢN ĐIỆN TỬ

DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

HỒ SƠ XÂY DỰNG LUẬT

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 01: CÁC GIAI ĐOẠN CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DNNVV Ở VIỆT NAM

PHỤ LỤC 02: ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CÔNG

PHỤ LỤC 03: TỰ DO KHÔNG PHẢI LÀ KHẢ NĂNG ĐƯỢC LỰA CHỌN – TỰ DO LÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ, GIỮA CÁ THỂ VÀ XÃ HỘI, GIỮA CÔNG DÂN VÀ NHÀ NƯỚC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nguyên Tắc Công Bằng Trong Pháp Luật Hợp Đồng

Nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong các giao dịch thương mại. Tại Việt Nam, nguyên tắc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng mà còn thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Việc áp dụng nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng giúp giảm thiểu tình trạng bất cân xứng trong giao dịch, từ đó tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh hơn.

1.1. Định Nghĩa Nguyên Tắc Công Bằng Trong Hợp Đồng

Nguyên tắc công bằng trong hợp đồng được hiểu là sự công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của các bên. Điều này bao gồm việc đảm bảo rằng các điều khoản trong hợp đồng không gây thiệt hại cho bên yếu thế và phải được thực hiện một cách minh bạch.

1.2. Vai Trò Của Nguyên Tắc Công Bằng Trong Pháp Luật Việt Nam

Nguyên tắc công bằng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng, đặc biệt là trong bối cảnh pháp luật hợp đồng tại Việt Nam. Nó giúp tạo ra một khung pháp lý vững chắc cho các giao dịch thương mại, từ đó thúc đẩy sự phát triển của DNNVV.

II. Vấn Đề Bất Cân Xứng Trong Giao Kết Hợp Đồng Tại Việt Nam

Tình trạng bất cân xứng trong giao kết hợp đồng là một trong những thách thức lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Các DNNVV thường gặp khó khăn trong việc thương lượng các điều khoản hợp đồng do vị thế yếu hơn so với các doanh nghiệp lớn. Điều này dẫn đến việc họ có thể bị áp đặt các điều khoản không công bằng, ảnh hưởng đến quyền lợi và sự phát triển của họ.

2.1. Nguyên Nhân Của Tình Trạng Bất Cân Xứng

Nguyên nhân chính của tình trạng bất cân xứng này bao gồm sự thiếu hụt thông tin, nguồn lực tài chính hạn chế và khả năng thương lượng yếu kém của DNNVV. Điều này khiến họ dễ bị thiệt thòi trong các giao dịch hợp đồng.

2.2. Hệ Lụy Của Bất Cân Xứng Đối Với Doanh Nghiệp Nhỏ

Hệ lụy của tình trạng bất cân xứng này không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của DNNVV mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Các DNNVV có thể gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động và phát triển do không được bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

III. Phương Pháp Đảm Bảo Công Bằng Trong Hợp Đồng

Để đảm bảo nguyên tắc công bằng trong hợp đồng, cần có các phương pháp và quy định pháp lý rõ ràng. Việc xây dựng các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế là rất cần thiết. Các biện pháp này không chỉ giúp bảo vệ DNNVV mà còn tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng hơn.

3.1. Quy Định Pháp Luật Về Hợp Đồng Công Bằng

Các quy định pháp luật cần được xây dựng để bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế trong hợp đồng. Điều này bao gồm việc cấm các điều khoản bất công bằng và yêu cầu các bên phải thực hiện nghĩa vụ một cách công bằng.

3.2. Tăng Cường Minh Bạch Trong Giao Dịch

Minh bạch trong giao dịch là yếu tố quan trọng để đảm bảo công bằng. Các bên cần cung cấp đầy đủ thông tin và điều khoản hợp đồng để tránh tình trạng hiểu lầm và tranh chấp sau này.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nguyên Tắc Công Bằng Trong Hợp Đồng

Việc áp dụng nguyên tắc công bằng trong hợp đồng đã mang lại nhiều lợi ích cho DNNVV tại Việt Nam. Các doanh nghiệp này đã có thể bảo vệ quyền lợi của mình tốt hơn và tham gia vào các giao dịch thương mại một cách công bằng hơn. Điều này không chỉ giúp họ phát triển mà còn góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế.

4.1. Các Trường Hợp Thành Công Trong Ứng Dụng Công Bằng

Nhiều DNNVV đã thành công trong việc áp dụng nguyên tắc công bằng để thương lượng các điều khoản hợp đồng có lợi cho mình. Điều này đã giúp họ duy trì hoạt động và phát triển bền vững.

4.2. Những Thách Thức Còn Tồn Tại

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực hiện nguyên tắc công bằng. Các DNNVV vẫn cần phải đối mặt với nhiều rào cản trong việc bảo vệ quyền lợi của mình trong các giao dịch hợp đồng.

V. Kết Luận Về Nguyên Tắc Công Bằng Trong Pháp Luật Hợp Đồng

Nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng là một yếu tố thiết yếu để bảo vệ quyền lợi của DNNVV tại Việt Nam. Việc thực hiện nguyên tắc này không chỉ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Cần có những chính sách và quy định pháp lý rõ ràng để đảm bảo rằng nguyên tắc công bằng được thực hiện một cách hiệu quả.

5.1. Tương Lai Của Nguyên Tắc Công Bằng

Tương lai của nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của hệ thống pháp luật và các chính sách hỗ trợ DNNVV. Cần có sự cải cách và đổi mới để đảm bảo rằng nguyên tắc này được thực hiện một cách hiệu quả.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Chính Sách Pháp Luật

Cần có những khuyến nghị cụ thể đối với chính sách pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của DNNVV. Điều này bao gồm việc xây dựng các quy định pháp lý rõ ràng và minh bạch để đảm bảo công bằng trong các giao dịch hợp đồng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng từ góc nhìn thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I và II 29 của BLDS 2015 giúp gỡ bỏ quy định về nguyên tắc giao kết, thực hiện hợp đồng tại Mục 7, Chương XV. Điều đó 27 Tham khảo nguyên tắc thượng tôn pháp luật của xã hội pháp quyền tại: - Nguyễn Xuân Tùng, 2011, Bàn về “nguyên tắc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa”, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1463, [truy cập lần cuối ngày 08/08/2017] - Đào Trí Úc, 2015, Giáo trình Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 28 Thay đổi đáng chú ý này được Đỗ Văn Đại bình luận rằng hợp đồng cần tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật dân sự như mọi hoạt động dân sự khác. Tham khảo: - Đỗ Văn Đại (chủ biên), 2016, Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm 2015, Nxb.

Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 29 Những nguyên tắc cơ bản trong BLDS 2005 được quy định tại Điều 4 tới Điều 13, đến BLDS 2015 chỉ còn tồn tại trong duy nhất Điều 3 và trở thành Các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật dân sự, làm cho phạm vi điều chỉnh được mở rộng theo đúng bản chất của pháp luật dân sự mặc dù thu gọn số điều luật quy định. Tham khảo thêm: - Vương Thanh Thuý, 2016, Một số điểm mới trong quy định về các nguyên tắc cơ bản của BLDS 2015, trong Chương 2 của cuốn sách: Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), 2016, Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm 2015, Nxb Tư Pháp, tr. - Đỗ Văn Đại, 2016, tlđd, tr.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cũng phù hợp với việc nhìn nhận hợp đồng hình thành trên cơ sở như chính khái niệm nó mang lại: “là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. 30 Như vậy, các nguyên tắc hợp đồng như đã quy định tại BLDS 1995 và BLDS 2005 bao gồm hai nội dung: - Tự nguyện tham gia, và tự do thoả thuận giao kết; nhưng, không trái pháp luật (không vi phạm điều cấm của luật)31, trái đạo đức. - Bình đẳng; thiện chí, hợp tác; trung thực và ngay thẳng. BLDS 2015, bên cạnh quy định tự chịu trách nhiệm, có bổ sung thêm nguyên tắc: - Không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Các nguyên tắc trước hết là căn cứ để xét xem tính hiệu lực của hợp đồng, và sau đó còn thể hiện sự ghi nhận quyền cá nhân từ Hiến pháp 2013. Và đây cũng chính là cơ sở để xác định giới hạn tác động đến quyền giao kết hợp đồng, quyền tài sản và tự do của cá nhân như những quyền cơ bản (fundamental rights) của con người với những gì pháp luật không cấm. Khởi nguyên của những quy định pháp luật về nguyên tắc hợp đồng là một đề tài rộng lớn với tinh thần pháp luật nhiều biến chuyển. Từ giới hạn nghiên cứu, luận văn bắt đầu bằng quan điểm của nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp – Nguyễn Đình Lộc rằng BLDS Việt Nam được xây dựng trên nền tảng cơ bản của BLDS Liên Xô và sự giúp đỡ của các chuyên gia Pháp, vậy hẳn mô hình pháp luật hợp đồng Việt Nam được thành hình dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Napoleon và Luật La Mã,32 và lấy cơ sở ấy để tìm hiểu về nguyên tắc giao kết hợp đồng mà chúng ta đang sử dụng.33 BLDS Cộng hòa Pháp hay Bộ luật Napoleon là một bộ luật nổi tiếng, nó là hình mẫu của nhiều BLDS của nhiều nước trên thế giới.

Sau dịp kỷ niệm 200 năm ra 30 Điều 385, BLDS 2015. 31 Đây cũng là một thay đổi mang tính cơ bản, song từ góc độ phân tích phục vụ đề tài, tác giả xin phép không đề cập tới. 32 Nguyễn Đình Lộc, 2004, 200 năm BLDS Cộng hoà Pháp và sự phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam,Tham luận Kỷ niệm 200 năm BLDS Pháp, Nhà pháp luật Việt – Pháp, tr. 33 Mặc dù như phân tích rằng hợp đồng tồn tại một cách tự nhiên trong mỗi cộng đồng, mỗi xã hội.

Nhưng những nguyên tắc cơ bản mà pháp luật Việt Nam quy định về hợp đồng chỉ bắt đầu xuất hiện khi các bộ Dân luật Bắc kỳ, Trung kỳ, và Nam kỳ giản yếu được trích lược phần lớn từ BLDS Napolenon được áp dụng. Tham khảo: - Nguyễn Ngọc Khánh, 2006, Chế định hợp đồng từ Luật La Mã đến BLDS, Tạp chí Kiểm Sát, số 7, tháng 4 năm 2006, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 đời, BLDS Pháp đứng trước khả năng sửa đổi. Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng trong pháp luật Pháp, do Nhà pháp luật Việt Pháp tổng hợp tại Kỷ yếu toạ đàm về sửa đổi BLDS năm 2012,34 được Yves Marie Latheir trình bày các nguyên tắc: - Nguyên tắc tự do hợp đồng - Nguyên tắc thoả thuận - Nguyên tắc tôn trọng trật tự công và thuần phong mỹ tục - Nguyên tắc ngay tình So sánh với các nguyên tắc đã nêu về hợp đồng trong BLDS Việt Nam, có thể thấy sự tương đồng đáng kể, nhưng dường như các nguyên tắc trong pháp luật hợp đồng Việt Nam chỉ đóng góp vai trò hình thức trong các điều luật chi tiết hơn là được áp dụng trong thực tiễn pháp luật.35 Trong khi ấy, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng của Pháp được đánh giá bên cạnh tính hiệu quả khi áp dụng thực tế, cũng như nhu cầu phát triển của xã hội.

Cùng với khả năng bổ trợ lẫn nhau của các nguyên tắc, pháp luật dân sự Pháp chú ý đến sự xuất hiện và phát triển của các nguyên tắc khác: - Nguyên tắc về tính công bằng của hợp đồng - Nguyên tắc tính hữu ích của hợp đồng - Nguyên tắc về tính tương xứng giữa các bên - Nguyên tắc an toàn pháp lý - Nguyên tắc nhất quán gắn kết - Nguyên tắc trung thực và hợp tác - Nguyên tắc tuân thủ các quyền cơ bản - Nguyên tắc không phân biệt đối xử Từ nhu cầu xã hội, các nguyên tắc được thử thách trên thực tế và cân nhắc khả năng bổ sung vào BLDS của nước Pháp nếu có thể bổ khuyết cho các nguyên tắc đã tồn tại. Ví dụ như nguyên tắc không phân biệt đối xử - việc phân biệt đối xử sắc tộc hẳn nhiên là xâm phạm quyền cơ bản của con người, nhưng khi pháp luật dân sự xác lập các quy định về thay đổi giới tính như một sự đòi hỏi thực tế cũng như quyền cơ bản, thì có nên cân nhắc một nguyên tắc hợp đồng mà ở đó, các hợp đồng có sự phân biệt đối tượng chuyển giới, như hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng lao động,… để đảm 34 Yves Marie Latheir, 2012, tlđd. 35 Tham khảo: - Nguyễn Ngọc Khánh, 2006, tlđd, tr. - Vương Thanh Thuý, 2016, tlđd, tr.

- Bộ Tư pháp, 2013, Tổng kết thi hành Bộ luật dân sự năm 2005, Số: 151/BC-BTP, ngày 15/7/2013. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 bảo lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội hay không? Đó là câu hỏi được các nhà nghiên cứu lưu tâm. Các nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam còn ít đề cập tới những vấn đề được kết nối với nguyên tắc cơ bản của quan hệ dân sự hay pháp luật hợp đồng, ngay cả khi nhà làm luật đã cập nhật các thuật ngữ lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; lẽ công bằng thì nội hàm của chúng cũng chưa được làm rõ. Bằng việc bình luận luật, các nguyên tắc vẫn trừu tượng và khó khăn trong vận dụng.

Nguyên nhân cũng một phần bởi tính đặc thù của hệ thống tư pháp, đã khiến cho sự phát triển nền tảng các nguyên tắc ấy bị trì trệ. Việc nghiên cứu, phát triển các nguyên tắc pháp lý, lý luận pháp luật, cũng như phát triển pháp luật nói chung, bên cạnh việc tìm hiểu nguồn gốc và giá trị nguyên bản, cần được đặt trong bối cảnh (tư pháp trọng văn bản luật, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa) và văn hóa (Á Đông với các triết lý Nho giáo, Phật giáo) của nước nhà.36 Các phân tích về công bằng bên cạnh tự do hợp đồng – tự do ý chí trong khế ước sẽ được đặt trong bối cảnh cụ thể của kinh tế - xã hội Việt Nam. Nhưng trước hết, cần xác định quy luật phát triển chung, để tính đặc thù không trở thành cá biệt trong sứ mệnh phát triển pháp luật. Xu hướng phát triển của nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng Công bằng là nguyên tắc bắt buộc trong pháp luật Anh, đã từng là hệ thống xét xử độc lập Hoa Kỳ, và đã từng xuất hiện trong nền tư pháp trọng án lệ của nước Pháp.37 Gần nhất, BLTTDS 2015 tại khoản 2 Điều 4 quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” và khoản 2 Điều 6 của BLDS 2015 quy định: “Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật … thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự …, án lệ, lẽ công bằng”.

Và đó được coi là một cơ chế để Tòa án có thể tiếp nhận mọi yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự và các thẩm phán thực hiện nguyên tắc công bằng của pháp luật.38 Với pháp luật hợp đồng thì tự do vẫn là nền tảng cơ bản, công bằng dường như không đóng vai trò gì trong thỏa thuận của tự do ý chí. Vậy công bằng liệu có cần thiết cho mối quan hệ hợp đồng ngày nay? Câu trả lời là có. Bởi các vấn đề mới trong xã hội đang ngày càng nhiều và thay đổi nhanh chóng quan điểm về tự do hợp đồng trên phạm vi toàn cầu. Giới hạn về các hành vi tự do được xác lập ngày càng rõ ràng 36 Phạm Duy Nghĩa, 2011, tlđd, tr.

37 Triệu Quốc Mạnh, 2000, tlđd, tr. 38 Lê Quang Vy, Lương Văn Trung, 2015, tlđd. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 và mở rộng phạm vi của nó ở cả hai hướng cơ bản: giữa cá nhân với bên/các bên còn lại của hợp đồng; và giữa quan hệ hợp đồng với lợi ích công cộng.39 Từ những năm 1970, không chỉ ở Pháp, mà hầu hết các nước phát triển tại châu Âu cũng như trên thế giới, đã nhận ra những quy định chung về nguyên tắc hợp đồng nhằm đảm bảo cho hiệu lực hợp đồng là không đủ để bảo vệ một bên yêu thế hơn tránh khỏi sự lợi dụng từ những điều khoản của hợp đồng của các tổ chức, thương nhân ngày một lớn mạnh theo đà phát triển của kinh tế toàn cầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ