CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành chính 1. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành chính Hoạt động hành chính mang tính chất quyền lực công được điều chỉnh bằng phương pháp quyền uy - phục tùng, trong đó, các chủ thể tham gia vào mối quan hệ này có một bên đại diện cho cơ quan nhà nước là cá nhân, tổ chức nhà nước có thẩm quyền ban hành QĐHC, HVHC, một bên chính là cá nhân, tổ chức chịu sự tác động của QĐHC, HVHC đó.
Xuất phát tính chất đối lập của hai bên chủ thể, có thể nhận thấy rõ sự bất bình đẳng trong vị trí pháp lý của hai bên. Điều này cũng dẫn đến một hệ trạng tiêu cực cho hoạt động hành chính của nước ta đó là việc ban hành các QĐHC, HVHC xâm phạm đến quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Do đó, vai trò xét xử hành chính của Tòa án đóng vai trò vô cùng quan trọng với mục đích vừa đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước phát huy chức năng một cách tốt nhất vừa đảm bảo quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức không bị xâm phạm. TTHC là quá trình thực hiện những hoạt động khác nhau của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng nhằm thụ lý và giải quyết VAHC một cách đúng đắn theo quy định của pháp luật.
Nắm bắt được vị thế trọng yếu của cơ quan xét xử, các nhà lập pháp nước ta cũng hình thành nên những cơ chế, nguyên tắc cơ bản để điều chỉnh hoạt động TTHC được thực hiện một cách khách quan, thực hiện đúng mục tiêu bảo vệ công bằng, công lý cho xã hội… Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản, không thể thiếu trong lĩnh vực TTHC nói riêng và trong hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay. Dưới sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội hiện đại, nhu cầu được bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong VAHC ngày càng được coi trọng và trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Không chỉ riêng Việt Nam, pháp luật thực định của các nước trên thế giới cũng quy định nguyên tắc này như một cơ chế bắt buộc phải tuân theo để đảm bảo cho quyền và lợi ích của đương sự không bị xâm phạm, tối ưu hóa việc đương sự chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của để bảo vệ cho lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ba chủ thể sau đây: 6 Thứ nhất, đối với đương sự, cơ chế bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự một cách tốt nhất và mang tính thiết thực cao.
Thứ hai, đối với xã hội, đây nguyên tắc là nâng cao tính công bằng dân chủ, thực hiện hoạt động tuân theo pháp luật và đồng thời cũng thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật. Thứ ba, đối với Tòa án: là nguyên tắc cơ bản, là hệ tư tưởng xuyên suốt và thống nhất trong quá trình giải quyết vụ án, giúp Tòa án đưa ra quyết định khách quan, linh hoạt khi xét xử, ban hành phán quyết công bằng nhất cho đương sự, tối ưu hóa hệ thống Tòa án hành chính Việt Nam. Xuất phát từ tính thiết yếu cũng như vai trò quan trọng của nguyên tắc này, Nhà nước ta cùng dành sự quan tâm, coi trọng và bảo đảm thực hiện. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua các quy định được ban hành trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Bên cạnh đó, nguyên tắc này cũng được cụ thể hóa ngay trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VAHC và Luật TTHC năm 2015. Mặc dù nguyên tắc này đóng vai trò chủ chốt trong hoạt động TTHC như vậy, tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu khai thác và làm rõ nội hàm cũng như bản chất để đề xuất đưa ra các giải pháp, kiến nghị, hoàn thiện nguyên tắc này một cách ưu việt nhất. Để làm rõ ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTHC, chúng ta cần xuất phát từ nguồn gốc ngữ nghĩa của từ trong tiếng Việt. Theo Từ điển tiếng việt của Viện Ngôn ngữ học do tác giả Hoàng Phê chủ biên, cụm từ “nguyên tắc” được hiểu là “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”1, hay có thể nói cách khác “nguyên tắc” là những điều mà chúng ta cần phải cần phải tuân theo, không được làm trái.
“Bảo đảm” là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết2. Bảo đảm mang hàm ý tạo sự chắc chắn cao. “Quyền” là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hướng, được làm, được đòi hỏi.” 3 Để giải thích mang tính khoa học và hàn lâm hơn, từ điển Luật học giải thích như sau: quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với các nhân, tổ chức để theo dó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà 1 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB. 2 Viện Ngôn ngữ học (2006), Tlđd (01), tr.
3 Viện Ngôn ngữ học (2006), Tlđd (01), tr. 7 không ai ngăn cản, được hạn chế.4 Bên cạnh đó, cụm từ “Bảo vệ lợi ích hợp pháp” được hiểu một cách cơ bản là chống lại mọi sự xâm phạm để giữ gìn những điều có lợi phù hợp với quy định của pháp luật luôn được nguyên vẹn.5 Dựa theo nghĩa của từ điển Tiếng Việt, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTHC được hiểu cơ bản là những điều mà mà chúng ta cần phải tuân thủ để giữ gìn và bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia vào VAHC không bị xâm phạm. Như vậy, khái niệm nguyên tắc đó nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đã làm ngữ nghĩa của từng cụm từ trong câu, tuy nhiên dưới sự gán ghép của của câu chữ thông thường, chỉ mang ý nghĩa khái quát chung, đã không làm sáng tỏ nội hàm của nguyên tắc này trong lĩnh vực TTHC, bên cạnh đó, cũng chưa giúp người đọc có thể hiểu rõ và hình dung bản chất của nguyên tắc này. Qua tình hình khảo sát nghiên cứu hiện nay, chưa có các công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu bao quát về nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong lĩnh vực TTHC mà chỉ dừng lại một hoặc một vài khía cạnh của nguyên tắc này.
Dù không trực tiếp đề cập trực tiếp đến nguyên tắc nhưng thông qua những khía cạnh mà các tác giả nghiên cứu, ta có thể nhận thấy mối liên hệ chặt chẽ của nguyên tắc thể hiện dưới nhiều cách thức, góc độ khác nhau được thể hiện qua các quy định của pháp luật. Tiếp cận dưới góc nhìn của một trong các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đương sự, tác giả Lê Quốc Việt cho rằng: “Trong quá trình giải quyết VAHC người đại diện của đương sự có thể tham gia nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự còn có một chủ thể khác cũng tham gia tố tụng với tư cách này là đó là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong VAHC.”6 Dù không đề cập đến khái niệm về nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương, tuy nhiên khi xét dưới khía cạnh nghiên cứu về đề tài người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tác giả cũng phần nào cho chúng tiếp xúc được một trong các quyền của đương sự có mối quan hệ liên kết mật thiết đối với nguyên tắc này, là cơ để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích của mình. 4 Đặng Xuân Sơn (2014), Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 5 Viện Ngôn ngữ học (2006), Tlđd (01), tr.
6 Lê Quốc Việt (2014), Người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hành chính, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 8 Ngoài ra, tác giả Đặng Xuân Sơn cũng giúp ta hiểu thêm bản chất nguyên tắc dưới khía cạnh của quyền và nghĩa vụ của đương sự. Cụ thể, tác giả trình bày quan điểm của mình như sau: “Theo chúng tôi, có thể đưa ra khái niệm quyền và nghĩa vụ của đương sự trong VAHC như sau: quyền và nghĩa vụ của đương sự trong VAHC là những quy định cho phép đương sự được hưởng, được thực hiện và bắt buộc phải thực hiện khi tham gia vào quan hệ pháp luật.”7 Theo đó, khi tiếp cận một quyền cơ bản của đương sự trong VAHC đó là quyền cung cấp chứng cứ, tác giả cũng nhấn mạnh rằng: “Cung cấp chứng cứ là quyền của đương sự là bởi vì trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự thực hiện việc cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của đương sự, từ đó, đương sự được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đương sự được tự nguyện quyết định và bảo đảm thực hiện quyền này, đương sự cung cấp chứng cứ càng đầy đủ thì quyền, lợi ích hợp pháp của họ cũng càng được đảm bảo.” Như vậy, có thể hiểu một cách cơ bản, thông qua thực hiện tốt và đúng hình thức, đúng thủ tục các quyền và nghĩa vụ của đương sự, điều này cũng góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của mình một cách thiết thực nhất, hơn nữa, đương sự có sự chủ động trong việc có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích của mình một cách hiệu quả.