Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về lạm phát và kinh nghiệm kiểm soát lạm phát ở các nước Chương 3: Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam Chương 4: Một số giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở MỘT SỐ NƯỚC 2. Khái niệm Lạm phát là việc mức giá chung của nền kinh tế tăng lên theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Mức giá chung tăng lên sẽ làm cho sức mua của đồng tiền bị giảm đi, có nghĩa là cùng một số tiền số lượng hàng hóa, dịch vụ mua được sẽ ít hơn trước đó. Lạm phát cũng là sự mất giá đồng tiền của một quốc gia này so với quốc gia khác.
Phân loại theo định lượng Lạm phát vừa phải: Còn gọi là lạm phát một con số ,có tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối. Lúc này nền kinh tế hoạt động bình thường ,đời sống ổn định: Giá cả tăng chậm ,lãi suất tiền gửi không cao ,không có tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn … Lạm phát vừa phải tạo giúp cho người lao động chỉ trông chờ vào thu nhập an tâm, những tác động của của loại lạm phát này không đáng kể, là mức mà nền kinh tế chấp nhận được. Lạm phát cao ( lạm phát phi mã): mức giá cả lúc này tăng nhanh với mức hai chữ số một năm.
Với mức hai chữ số thấp là 11% hay 12% thì ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế không đáng kể,trong mức chấp thuận được.Nhưng khi tỷ lệ lạm phát tăng lên cao hơn thì sẽ làm cho mức giá cả chung tăng lên nhanh chóng, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Người dân có động cơ tích trữ vàng bạc, hàng hóa, bất động sản và với mức lãi suất như bình thường, ngân hàng khó có thể huy động vốn từ họ. Lạm phát phi mã có tác động tiêu cực đến sản xuất và thu nhập cũng như sự ổn định của kinh tế. Siêu lạm phát: Là loại lạm phát trên ba con số.Việc tăng lên nhanh chóng và không ổn định của giá cả làm ảnh hưởng đến tốc độ lưu thông tiền tệ, tiền tệ nhanh 1 Luật Dương Gia, 2015.
Khái quát chung về lạm phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 chóng bị mất giá. Thu nhập của người lao động cũng bị giảm mạnh, thông tin trên thị trường mất độ tin cậy, các yếu tố khác cũng bị biến dạng làm mất phương hướng, rối loạn hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh tế nhanh chóng bị suy sụp. Phân loại theo định tính Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng Lạm phát cân bằng: Là loại lạm phát mà mức giá chung và thu nhập thực tế của người lao động có mức tăng tương ứng với nhau, vì vậy không ảnh hướng đến đời sống hàng ngày của người lao động và phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nền kinh tế. Lạm phát không cân bằng: Mức giá chung tăng nhanh hơn so với thu nhập của người lao động.
Đây là loại lạm phát thường hay xảy ra. Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường Lạm phát dự đoán trước được là loại lạm phát có thể dự đoán trước được tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn tiếp theo. Tỷ lệ lạm phát đều đặn, ổn định và kéo dài hàng năm. Do tâm lý của người dân đã quen với tình trạng này nên đã có sự chuẩn bị vì vậy không ảnh hướng lớn đến đời sống và kinh tế.
Lạm phát bất thường là loại lạm phát đột nhiên xuất hiện làm ảnh hưởng đến đời sống và tâm lý của người dân. Vì vậy sẽ ảnh hưởng lớn đối với lòng tin của người dân vào chính quyền và kinh tế khó phát triền. Các chỉ tiêu đo lường lạm phát Để đo lường lạm phát có thể sử dụng các chỉ số: chỉ số giá tiêu dùng CPI, chỉ số giá sản xuất PPI, chỉ số giảm phát GDP. Chỉ số được sử dụng nhiều nhất là CPI dùng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạt theo thời gian.
Chỉ số giá tiêu dùng tăng có nghĩa là phải sử dụng nhiều tiền hơn để duy trì mức sống như cũ. Chỉ số giá tiêu dùng CPI Cách tính CPI dựa trên một giỏ hàng hóa, dịch vụ tiêu biểu cho các hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế để phản ánh sự thay đổi của giá cả tiêu dùng theo thời gian. CPI được tính theo các bước như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Bước 1: Lựa chọn ra một giỏ hàng hóa, dịch vụ từ các hàng hóa,dịch vụ trong nền kinh tế rồi dựa theo mức độ quan trọng của HH và DV đó trong ngân sách tiêu dùng để đặt quyền số cho chúng. Ví dụ, chỉ số giá tiêu dùng CPI ở Hoa Kỳ được tính bằng 364 HH và DV riêng biệt từ 21.000 cơ sở ở 91 vùng trong cả nước.
2 Số lượng HH và DV cùng với quyền số của chúng không phải là bất biến mà được điều chỉnh khi cơ cấu tiêu dùng có sự thay đổi. Ở nước ta, CPI từ năm 1998 đến tháng 10 năm 2009 được tính bằng 10 nhóm HH và DV sau đây: Nhóm 1: Lương thực và thực phẩm Nhóm 2: Đồ uống và thuốc lá Nhóm 3: May mặc, giày dép, mũ nón Nhóm 4: Nhà ở và vật liệu xây dựng Nhóm 5: Thiết bị và đồ dùng gia đình Nhóm 6: Dược phẩm, y tế Nhóm 7: Phương tiện đi lại, bưu điện Nhóm 8: Giáo dục Nhóm 9: Văn hóa, thể thao, giải trí Nhóm 10: Hàng hóa và dịch vụ khác Có sự thay đổi số lượng mặt hàng từ 396 ở năm 2000 và tăng thêm 94 mặt hàng thành 490 ở năm 2005. Từ tháng 10 năm 2009 số nhóm HH và DV tăng lên thêm 1 thành 11 nhóm; số lượng mặt hàng tăng lên 572, thêm 82 mặt hàng. Quyền số của các nhóm HH và DV thay đổi trên kết quả của Tổng cục Thống kê.
Ví dụ, nhóm lương thực và thục phẩm giảm từ 60,86 % vào tháng 5 năm 1997 xuống 47,9 % năm 1999 và còn 42,70 % năm 2005, giảm khoảng 12,98%. Bước 2: Chọn thời điểm gốc ( CPI = 100%) rồi dựa vào đó để tính cho từng thời điểm. A Samuelson và William D. Kinh tế học, Tập II, Trang 392.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chỉ số giá tiêu dùng được xác định bằng cách tính tỷ trọng chi tiêu của từng loại hàng hóa, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu. Giỏ hàng hóa được chọn là hàng hóa, dịch vụ quan trọng mang tính chất điển hình. Chi phí để mua hàng hóa thời kỳ t CPIt = x 100 Chi phí để mua hàng hóa kỳ cơ sở Thời kỳ gốc sẽ được thay đổi trong 5 đến 7 năm tùy từng nước. Chỉ số giảm phát GDP Chỉ số này là tỷ lệ của GDP danh nghĩa và GDP của năm được chọn làm gốc, từ đó xác định GDP theo giá so sánh hay GDP thực.
Chi phí tiêu dùng cá nhân được sử dụng trong tính toán của phép khử lạm phát. Tại Mỹ, Fed thường sử dụng chỉ số PCE chi tiêu tiêu dùng cá nhân như là thước đo chính của lạm phát. GDP danh nghĩa Chỉ số giảm phát GDP = x 100 GDP thực tế 2. Tác động của lạm phát 2.
Tác động tích cực Lạm phát không phải lúc nào cũng gây nên tác hại đối với nền kinh tế. Lạm phát ở mức độ vừa phải sẽ mang lại những tác động tích cực: + Kinh tế phát triển ổn định, kích thích tiêu dùng làm sản lượng gia tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn. + Các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh thông qua việc đi vay làm cho sản lượng tăng lên. + Nhà nước có khả năng kích thích đầu tư vào các lĩnh vực yếu kém thông qua các công cụ, giúp phân bổ lại thu nhập và các nguồn lực trong xã hội.
Tác động tiêu cực + Tốc độ tăng trưởng và sản lượng nền kinh tế Khi lạm phát cao dẫn đến mất ổn định kinh tế vĩ mô, làm suy giảm tốc độ tăng trưởng và sản lượng của nền kinh tế. Khi lạm phát tăng, các yếu tố đầu vào sản xuất và giá đầu ra của các sản phẩm biến động thường xuyên làm cho hoạt động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 kinh doanh không ổn định khiến cho đầu tư doanh nghiệp sụt giảm. Đầu tư giảm ảnh hưởng đến thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp. Hiệu ứng dây chuyền sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng và sản lượng của nền kinh tế giảm.
+ Lãi suất Khi lạm phát cao sẽ không có lợi với mọi lĩnh vực của kinh tế, chính trị- xã hội. Tác động đầu tiên là tác động đến lãi suất. Khi tỷ lệ lạm phát cao, NHTW thực thi CSTT thắt chặt dẫn đến lãi suất cơ bản tăng lên. Vì vậy tác động không tốt tới nền kinh tế, làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.
Chi phí của của doanh nghiệp cũng tăng lên từ việc lãi suất tăng, dẫn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bị giảm sút, giảm sản lượng và thu nhập của nền kinh tế. + Thu nhập thực tế Khi lạm phát tăng lên nếu thu nhập danh nghĩa không thay đổi thì thu nhập thực tế của người lao động bị giảm đi, đời sống của người lao động sẽ khó khăn hơn. Đồng thời, làm giảm lợi tức và tăng thêm chi phí cho người gửi tiết kiệm. + Phân phối thu nhập không bình đẳng Giá trị đồng tiền bị mất giá khi lạm phát tăng cao, đồng thời lúc này sẽ xuất hiện hiện tượng đầu cơ do những người có tiền đi thu gom hàng hóa, tài sản làm ảnh hưởng đến cân đối cung – cầu trên thị trường, làm mức giá hàng hóa ngày càng tăng cao.
Vì vậy những người dân nghèo lại càng khó khăn hơn còn những kẻ đầu cơ lại càng lúc càng giàu có tạo ra chênh lệch lớn về thu nhập, mức sống xã hội. Ảnh hưởng lớn nhất của lạm phát với nước đang phát triển như Việt Nam là thiệt hại nhiều nhất cho những người nghèo. + Nợ quốc gia và khủng hoảng kinh tế- xã hội Lạm phát tăng cao làm cho giá trị đồng nội tệ bị mất giá so với đồng nước ngoài. Vì vậy, nợ nước ngoài lúc này sẽ càng khó khăn hơn đối với chính phủ.