Chương 1: Một số vấn đề lý luận 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm pháp của trẻ em ở các góc độ khoa học khác nhau.1 Những nghiên cứu trên thế giới Từ xa xưa, nhiều người đã nghiên cứu nguyên nhân trẻ em phạm pháp, nhưng chỉ đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề này được các tác giả của nhiều trường phái quan tâm một cách cụ thể hơn. ở các công trình nghiên cứu về tội phạm học, vấn đề nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm pháp nói chung và phạm tội nói riêng, thường được xem xét trong mối quan hệ phối hợp “môi trường - người phạm tội”. Nhưng nguồn gốc phát sinh tội phạm đã được giải quyết rất khác nhau và gây ra nhiều tranh luận.
Cũng tương tự như vậy, vào thế kỷ XIX khi ngành tội phạm học thế giới phát triển ở mức cao, cuộc tranh luận về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm pháp đã diễn ra quyết liệt theo hai trường phái đối lập. Trường phái nhân chủng học, người đề xướng là Lombroso (1835- 1909)- giáo sư pháp y người Italia cho rằng: nguyên nhân hàng đầu của hành vi phạm tội nằm ở chính trong con người và những đặc tính tâm lý của người phạm tội. Lombroso chứng minh rằng, những tên tội phạm là sự lại giống của những loại hình người sơ khai và hung dữ, biểu hiện qua những nét trên cơ thể như trán dô, mắt xếch…v. Theo hướng này,nhóm tác giả cho rằng "tội phạm là dạng thấp của hành vi và người phạm tội gần giống với tổ tiên loài người hơn là những người không phạm tội cả về đặc điểm và thiên hướng: [ 44; tr 53,54].
Vì vậy, theo Lombroso, nguyên nhân nảy sinh tội phạm là do bẩm sinh, đặc điểm cơ thể sinh học hoặc do bệnh lý, cho nên cứ nhìn tướng mạo, dáng vẻ bề ngoài người ta có thể biết ai (hoặc sẽ) là kẻ phạm tội. Trong khi Lombroso tìm kiếm sự giải thích hành vi phạm tội thông qua những thí nghiệm và nghiên cứu khoa học thì Garofalo (1852- 1934) đi tìm LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com hiểu sự lệch lạc liên quan đến phạm tội từ góc độ sinh học được đặc trưng bởi các nét, các loại hình cơ thể hay sự biến đổi bất thường các cấu tạo nhiễm sắc thể. Về thực chất của trường phái nhân chủng học là học thuyết về bản chất sinh học của tội phạm và vai trò của con người trong nguyên nhân dẫn đến phạm tội. Như vậy, con người ở đây được coi là một thực thể sinh học thuần tuý chứ không phải là một thành viên xã hội.
Quan điểm này vẫn được lưu truyền cho đến ngày nay và biến tướng dưới nhiều hình thức đa dạng, dưới cái nhìn của nhiều nhà tội phạm học tư sản: coi trọng yếu tố bẩm sinh, di truyền trong việc qui định hành vi phạm tội của cá nhân. Trường phái nhân chủng học và các biến tướng của nó đã chú ý một cách “thái quá” đến các đặc điểm y sinh học của những người phạm tội mà không phân tích khía cạnh xã hội đối với tội phạm và nguyên nhân của nó. Trường phái môi trường xã hội: Ngày nay, trong nhiều sách báo không hiếm gặp các trường hợp đề cập, lí giải về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội theo kiểu một chiều như học thuyết về môi trường xã hội. Những người theo trường phái này đưa ra những số liệu so sánh giữa điều kiện sinh sống, khả năng thu nhập, trình độ học vấn của những người phạm tội và không phạm tội để thuyết phục rằng, nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do: - Hoàn cảnh kinh tế khó khăn - Bị người xấu xúi giục - Không được chăm sóc chu đáo - Bị ảnh hưởng của lối sống lạc hậu, bị tiêm nhiễm văn hoá đồi truỵ.
Tóm lại, tội phạm là hậu quả của những ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường xã hội khách quan. Trên thực tế, những người theo quan điểm này đã không xem xét đến tính chủ động của cá nhân trong mối quan hệ với những điều kiện và hoàn cảnh xã hội. Cũng cần phải thấy rằng, nhân cách người LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com phạm tội là một vấn đề đặt ra cho các nhà tội phạm học mối quan tâm riêng, vì nhân cách không chỉ chịu tác động của các điều kiện ngoại cảnh mà còn tích cực tác động vào hoàn cảnh. ở con người, đặc trưng cơ bản là hoặc động có mục đích, do đó, phải xác định người phạm tội đã chịu tác động của hoàn cảnh như thế nào cũng như theo cơ chế nào.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, nguyên nhân dẫn đến hành vi gây nguy hiểm cho xã hội không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện hoàn cảnh khách quan mà còn phụ thuộc vào chủ thể hành động của con người với những kết cấu hết sức phức tạp về tâm - sinh lý. Dưới góc độ tâm lý học có một số hướng, lý thuyết của các trường phái sau nghiên cứu về hành vi phạm pháp. Hướng tiếp cận phân tâm học- đại diện là S. Freud (1856 – 1939) đã giải thích tội phạm từ góc độ phân tâm; “tội phạm là kết quả xung đột giữa bản năng thô bạo (như tính hung hãn, phá phách của con người) với các qui tắc đạo đức xã hội”.
Quá trình xã hội hóa đầu tiên- thời thơ ấu của đứa trẻ bị rối loạn, nhân cách bị bóp méo, phát triển không bình thường nên sau này dẫn đến hành vi sai lệch, hành vi phạm tội [3; tr 10,11]. Freud đã đưa ra cấu trúc nhân cách gồm 3 bộ phận: cái ấy- bản năng, cái tôi- bản ngã, và siêu tôi- siêu ngã. Theo đó, bản năng là phần vô thức, là cái chất sinh vật của cá nhân, cái siêu ngã ở phần lương tri, là những ước chế của xã hội. Trong thực tế hành động, khi cá nhân để cho phần bản năng bị chế ngự bởi cái siêu ngã thì hành vi vi phạm pháp luật sẽ xuất hiện, cá nhân đó dễ phạm tội.
Tư tưởng, cuộc sống của con người do những do những bản năng quyết định: những bản năng, những thúc đẩy của nguyên ngã muốn tìm cách biểu lộ ra bên ngoài, nhưng các xung lực bị dồn nén, nếu có biểu lộ ra thì chỉ dưới những hình thức cải biến, nguỵ trang. Vì vậy, nguyên nhân của những hành vi lệch chuẩn nói chung, hành vi phạm pháp nói riêng nằm trong sự xã hội hoá thời kỳ đầu của đứa trẻ có nhiều thiếu sót. LUAN VAN CHAT LUONG download8 : add luanvanchat@agmail.com Hướng tiếp cận hành vi: Chủ nghĩa hành vi chú ý đến những phản ứng và tác nhân môi trường đến hành vi để tìm hiểu sự phát triển tâm lý của trẻ chưa thành niên. Trẻ em phạm pháp là do tâm sinh lý lứa tuổi mới lớn (chưa trưởng thành, nhận thức pháp luật hạn chế.
Vì vậy, lý thuyết hành vi vận dụng để giải thích những trường hợp trẻ em ở tuổi chưa thành niên thực hiện hành vi phạm pháp do không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tóm lại, có rất nhiều hướng tiếp cận cũng như nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập và tìm hiểu về hành vi phạm pháp dựa trên cơ sở sinh học, tâm lý học, xã hội học. Mỗi lý thuyết khác nhau có những cách lý giải khác nhau về nguồn gốc phát sinh của hành vi lệch chuẩn nói chung, hành vi phạm pháp nói riêng.2 Những nghiên cứu trong nước Có rất nhiều tác giả Việt nam đã nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm pháp của trẻ em vị thành niên. Nghiên cứu của Phạm Minh Hạc cùng các cộng tác viên trong 3 năm (1978- 1980) đã tìm hiểu nguyên nhân trẻ em phạm pháp.
Sau một thời gian tìm hiểu trong trại giam như gặp gỡ, trao đổi ý kiến với học sinh và người phụ trách công việc giáo dục, nhóm tác giả đã có cơ sở để giải thích rằng, giao tiếp nhóm (có quan hệ trong một nhóm bạn bè) là một nguyên nhân cơ bản và trực tiếp đưa trẻ tới hành vi phạm pháp. Theo tác giả, những trẻ này giao tiếp nhóm không hướng chúng vào hoạt động học tập, mà hướng vào những hoạt động, chủ yếu nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất, trong khi không vì hoàn cảnh gia đình khó khăn hay tan vỡ mà dẫn trẻ em đến hư, phạm pháp (vì thực tế nghiên cứu có 77% kinh tế gia đình các em này đủ ăn, 70- 80% có gia đình hoàn thiện). Tìm hiểu sâu hơn các tác giả nhận thấy, chính cách giáo dục thô LUAN VAN CHAT LUONG download9 : add luanvanchat@agmail.com bạo, sai lầm và sự không quan tâm của gia đình là một trong những nguyên nhân làm phá huỷ những tình cảm tích cực để thay vào đó là tình cảm tiêu cực (chống đối). ở lứa tuổi thiếu niên – lứa tuổi của các khách thể được các tác giả nghiên cứu với đặc trưng là quan hệ bạn bè gắn bó hơn cả, các mối quan hệ bạn bè dần thay thế mối quan hệ trước đó đã được thiết lập trong gia đình.
Vì vậy, nếu quan hệ bạn bè, hay việc giao tiếp quá thường xuyên với những nhóm bạn xấu (chơi bời lêu lổng, bỏ học, ăn cắp.) trong giai đoạn này sẽ có nguy cơ cao dẫn tới những hành vi phạm pháp. Tác giả Trần Công Phàn trong công trình nghiên cứu "Tình hình, nguyên nhân và biện pháp đấu tranh phòng chống các tội tham nhũng” [ 20] cho rằng, nếu thừa nhận tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, những hành vi nguy hiểm ấy, không chỉ do tác động của yếu tố bên ngoài, yếu tố khách quan mà còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan, với tư cách là yếu tố bên trong có kết cấu tâm sinh lý, ý thức, hệ tư tưởng phức tạp. Vì vậy, nguyên nhân của tội phạm phải được xem trong tổ hợp thống nhất của các yếu tố chủ quan và khách quan. Trong những yếu tố tâm sinh lý cần chú ý đến những biến đổi nội dung của nhu cầu, lợi ích, cách thức, con đường thỏa mãn nhu cầu.
Nguyên nhân trực tiếp của tội phạm phần lớn do ý thức sai về cách thức thỏa mãn nhu cầu. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga trong nghiên cứu “ Những nguyên nhân dẫn trẻ em đến hư hỏng phạm pháp" [18; tr 21,22] cho rằng, trẻ em phạm pháp phần lớn bị tổn thương về mặt tinh thần hoặc thể xác do cha mẹ của các em và xã hội gây ra.