Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi tác giả Đỗ Đức Thái (mã sinh viên: 451607), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Thủy, thuộc chuyên ngành Pháp luật Hành chính (năm 2024).

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ ra rằng xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên là hoạt động áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm pháp luật nhằm mục đích giáo dục, quản lý và phòng ngừa các sai lệch trong hành vi. Tuy nhiên, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với đối tượng này chưa nhận được sự quan tâm đúng mức trong công tác xây dựng pháp luật. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở các lĩnh vực quản lý nhà nước tuy nhiều về số lượng nhưng thiếu tính đồng bộ, còn chồng chéo và kém hiệu quả. Đáng chú ý, các nhà làm luật chủ yếu tiếp cận xử phạt vi phạm hành chính dưới góc độ là một giai đoạn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mà chưa nhìn nhận đúng tính độc lập của chế định xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên. Thực trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật bị xử phạt hành chính ngày càng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp, đòi hỏi phải có cơ sở lý luận và thực tiễn để định hướng hoàn thiện khung pháp lý có tính pháp điển cao.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xem xét toàn diện các vấn đề khoa học về xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành, từ đó xác định nhu cầu, cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này.

Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về người chưa thành niên vi phạm pháp luật, đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng, khái niệm xử phạt vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên; phân tích nội dung điều chỉnh và tiêu chí hoàn thiện hệ thống pháp luật riêng biệt này.
  2. Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên; tập trung làm rõ những hạn chế, vướng mắc của pháp luật hiện hành và tác động tiêu cực của các hạn chế đó trong quá trình áp dụng.
  3. Đề xuất phương hướng và các giải pháp, nội dung cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói chung và đối với người chưa thành niên nói riêng.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn quy định về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay.
  • Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ năm 2012 (thời điểm Quốc hội ban hành Luật Xử lý vi phạm hành chính) đến nay.
  • Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tại Việt Nam.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình đào tạo luật học và các công trình khoa học chuyên ngành:

  • Hiến pháp năm 2013 (các quy định về quyền con người, quyền công dân, quyền trẻ em và quyền bảo vệ bí mật đời tư).
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) – quy định tại Điều 21 về độ tuổi của người chưa thành niên.
  • Luật Trẻ em năm 2016 – quy định tại Điều 1 về khái niệm trẻ em là người dưới 16 tuổi.
  • Bộ luật Lao động năm 2019 (các quy định về độ tuổi và điều kiện tham gia quan hệ lao động của người chưa thành niên).
  • Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), trọng tâm tại các điều: Điều 5 (đối tượng bị xử phạt), Điều 21 và Điều 22 (hình thức xử phạt cảnh cáo), Điều 23 (phạt tiền), Điều 38 đến Điều 51 (thẩm quyền xử phạt), Điều 55 đến Điều 63 (thủ tục xử phạt), Điều 126, Điều 134 (nguyên tắc xử lý), Điều 135 (các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả), Điều 136 (các biện pháp xử lý hành chính).
  • Nghị định số 118/2021/NĐ-CP (Điều 25 về nguyên tắc xử phạt có lợi nhất cho người vi phạm), Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP (Điều 7), Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BGTVT (Điều 72).
  • Các công ước quốc tế về quyền con người và quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên.
  • Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2019).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng bao gồm sự kết hợp giữa:

  • Phương pháp phân tích biện chứng
  • Phương pháp so sánh
  • Phương pháp tổng hợp
  • Phương pháp thống kê
  • Phương pháp lịch sử cụ thể

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các quy định văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; dữ liệu nghiên cứu kế thừa từ các luận văn, luận án trước đó (Bùi Tiến Đạt năm 2008, Nguyễn Thanh Đăng Khoa năm 2022, Đào Thị Thu An năm 2021, Nguyễn Ngọc Bích năm 2003); các bài viết chuyên san của các tác giả như Cao Vũ Minh (2019, 2021), Nguyễn An Khôi (2022), Quách Tiền Phong (2007), Nguyễn Nhật Khanh (2020), Nguyễn Thị Phương Châm (2020); cùng vụ việc áp dụng pháp luật xử phạt thực tế tại Công an thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên ở Việt Nam

Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm, cơ sở lý luận nền tảng và khung pháp lý điều chỉnh hoạt động xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên:

  • Khái niệm và đặc điểm chủ thể: Căn cứ Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Kết hợp với Luật Trẻ em 2016, người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em (dưới 16 tuổi) và người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, người chưa thành niên bị xử phạt hành chính khi thỏa mãn: từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, và đã thực hiện hành vi trái pháp luật bị chế tài. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt về vi phạm do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt về mọi vi phạm.
  • Đặc điểm tâm sinh lý: Giai đoạn từ 14 đến 18 tuổi có sự phát triển nhanh về thể chất nhưng tâm sinh lý chưa ổn định, hệ thần kinh chưa chịu được kích thích mạnh và kéo dài, tuyến nội tiết hoạt động mạnh dễ dẫn đến rối loạn thần kinh tạm thời (mệt mỏi, bực tức, nổi nóng). Quá trình hưng phấn mạnh hơn ức chế khiến hành vi dễ bộc phát. Nhóm tuổi này đang hình thành sự tự ý thức, muốn tự khẳng định bản thân nhưng thiếu kinh nghiệm sống và tri thức pháp lý nên dễ bị kích động, lôi kéo.
  • Đặc điểm vi phạm hành chính của người chưa thành niên: Tác giả chỉ ra 4 đặc điểm:
    1. Vi phạm mang tính bộc phát, không có động cơ, mục đích rõ ràng;
    2. Vi phạm thường do sự lôi kéo, xúi giục, kích động, dụ dỗ của người thành niên;
    3. Vi phạm thường bắt nguồn từ sự thiếu quan tâm, chăm sóc, quản lý chu đáo của cha mẹ, gia đình;
    4. Vi phạm thường thể hiện rõ ràng, dễ nhận biết, diễn ra nhanh chóng và ít có quyết tâm thực hiện đến cùng nếu bị ngăn cản.
  • Nguyên tắc xử phạt đặc thù (Điều 134 Luật XLVPHC): Xử lý chỉ trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ sửa chữa sai lầm, không nhằm mục đích triệt tiêu hay hạ thấp nhân phẩm; mức phạt và biện pháp xử lý phụ thuộc vào nhận thức, hoàn cảnh vi phạm; mức xử phạt nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi; tôn trọng và bảo vệ bí mật riêng tư.
  • Các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả (Điều 135 Luật XLVPHC):
    • Hình thức xử phạt: Cảnh cáo (hình thức phạt chính duy nhất áp dụng cho người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; áp dụng thủ tục không lập biên bản theo Điều 56); Phạt tiền (không áp dụng cho người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chịu mức phạt không quá 1/2 so với người thành niên); Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
    • Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe, vật nuôi, cây trồng, môi trường, văn hóa phẩm độc hại; Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp hoặc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện đã bị tẩu tán, tiêu hủy trái quy định.
  • Thẩm quyền và thủ tục xử phạt: Thẩm quyền xử phạt được phân định cho nhiều cơ quan (UBND các cấp, Công an, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư, Thuế, Quản lý thị trường, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia, Thanh tra, Cảng vụ, Tòa án, Kiểm toán nhà nước, Thi hành án dân sự, cơ quan đại diện ngoại giao). Thủ tục xử phạt tiến hành qua các bước: buộc chấm dứt hành vi, lập biên bản (trừ trường hợp cảnh cáo/phạt tiền dưới 250.000 đồng), xác minh tình tiết, ra quyết định xử phạt (hoặc chuyển hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 62, 63), gửi quyết định cho người vi phạm và cha mẹ/người giám hộ, và thi hành quyết định.
  • Vai trò và tiêu chí đánh giá: Pháp luật xử phạt người chưa thành niên bảo đảm an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển bền vững và khẳng định vai trò giáo dục. Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật gồm: phù hợp tinh thần Hiến pháp 2013 về quyền con người và quyền trẻ em, tính toàn diện, tính thống nhất và đồng bộ.

Bảng tổng hợp quy định xử phạt vi phạm hành chính theo độ tuổi của người chưa thành niên:

Độ tuổi Khả năng chịu trách nhiệm XPVPHC Hình thức xử phạt áp dụng Nghĩa vụ phạt tiền Trách nhiệm của cha mẹ/người giám hộ
Dưới 14 tuổi Không bị áp dụng xử phạt vi phạm hành chính. Không áp dụng. Không áp dụng. Quản lý, giám sát chung theo quy định gia đình.
Từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi Chỉ bị xử phạt đối với vi phạm hành chính thực hiện do lỗi cố ý (điểm a khoản 1 Điều 5 Luật XLVPHC). Chỉ áp dụng hình thức phạt Cảnh cáo (Điều 22, Điều 134, Điều 135). Có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Không áp dụng hình thức phạt tiền. Nhận quyết định xử phạt cảnh cáo; phối hợp giáo dục.
Từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi Bị xử phạt đối với mọi vi phạm hành chính (cả lỗi cố ý và vô ý). Cảnh cáo; Phạt tiền; Tịch thu tang vật, phương tiện; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả. Mức tiền phạt không quá 1/2 mức phạt áp dụng đối với người thành niên. Nộp tiền bằng 1/2 trị giá tang vật/phương tiện nếu thuộc diện tịch thu nhưng không còn. Nộp tiền phạt thay hoặc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thay nếu người vi phạm không có khả năng tài chính.

Chương 2: Thực trạng quy định về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên ở Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích, đánh giá các bất cập, lỗ hổng của các quy định pháp luật hiện hành khi áp dụng vào thực tế:

  1. Bất cập trong cách tính tuổi khi không xác định được chính xác ngày, tháng sinh: Độ tuổi là căn cứ quyết định để xác định có hay không vi phạm hành chính và hình thức chế tài tương ứng. Tuy nhiên, Luật XLVPHC hiện hành và văn bản hướng dẫn không quy định cụ thể công thức xác định tuổi khi thiếu ngày, tháng sinh. Nghị định số 81/2013/NĐ-CP trước đây từng có quy định nhưng đã hết hiệu lực. Trong khi đó, Điều 25 Nghị định 118/2021/NĐ-CP chỉ quy định chung chung: "người có thẩm quyền xử phạt lựa chọn áp dụng hình thức xử phạt có lợi nhất cho người vi phạm". Tác giả chứng minh quy định này bộc lộ bất cập lớn: nó chỉ có ý nghĩa đối với hành vi có quy định nhiều hình thức phạt lựa chọn (như Điều 72 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-BGTVT cho phép chọn giữa cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 đồng). Đối với các vi phạm mà điều luật chỉ quy định một chế tài phạt tiền cố định (đơn cử khoản 4 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP phạt tiền từ 3.000.000 đồng đối với hành vi mang theo vũ khí thô sơ nhằm gây rối trật tự công cộng), người có thẩm quyền không thể tự ý chuyển sang cảnh cáo (trừ nhóm 14 đến dưới 16 tuổi) và cũng không thể hạ mức phạt xuống dưới mức tối thiểu nếu không có tình tiết giảm nhẹ.
  2. Thiếu nguyên tắc xác định chính xác mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi: Khoản 3 Điều 134 Luật XLVPHC quy định mức phạt tiền "không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên". Quy định này tạo ra sự tùy nghi và thiếu thống nhất. Tác giả nêu ví dụ tại điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP: hành vi tụ tập đông người gây mất trật tự nơi công cộng có mức phạt đối với người thành niên không có tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ là mức trung bình khung. Nhưng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, mức phạt cụ thể sẽ là một nửa mức trung bình (500.000 đồng) hay có thể thấp hơn nữa? Pháp luật thiếu nguyên tắc định lượng cụ thể dựa trên mức độ nhận thức, thái độ ăn năn hối cải và hoàn cảnh cá nhân. Dẫn chứng vụ việc thực tế: Công an TP. Tân An (tỉnh Long An) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N.T.L (17 tuổi) về hành vi chạy xe bốc đầu, buông hai tay quay clip đăng mạng xã hội với tổng mức phạt 7,4 triệu đồng (tính bằng một nửa mức phạt của người thành niên).
  3. Vướng mắc về trách nhiệm nộp tiền phạt thay của cha mẹ hoặc người giám hộ: Khoản 3 Điều 134 Luật XLVPHC quy định trường hợp người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay. Dù quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý của gia đình, văn bản pháp luật hiện hành lại bỏ ngỏ cơ chế pháp lý xử lý trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ từ chối, trốn tránh hoặc cố tình không nộp tiền thay, dẫn đến bế tắc trong khâu cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

Dựa trên các vướng mắc tại Chương 2, tác giả đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Phương hướng hoàn thiện: Xây dựng hệ thống pháp luật xử lý vi phạm hành chính hướng tới tính pháp điển hóa cao; bảo đảm tính độc lập của chế định xử phạt người chưa thành niên; quán triệt sâu sắc các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em và các nguyên tắc bảo hiến của Hiến pháp 2013; giữ vững mục tiêu xử phạt mang tính giáo dục, hướng thiện và hỗ trợ phục hồi thay vì trừng phạt thuần túy.
  • Giải pháp hoàn thiện:
    • Sớm ban hành văn bản quy định cụ thể phương pháp xác định tuổi của người chưa thành niên khi không có đầy đủ giấy tờ hộ tịch xác định ngày, tháng sinh, bảo đảm căn cứ pháp lý vững chắc cho người có thẩm quyền áp dụng.
    • Cụ thể hóa nguyên tắc định lượng mức tiền phạt "không quá 1/2" bằng công thức hoặc barem thống nhất, gắn với việc đánh giá các tình tiết giảm nhẹ về thái độ (như tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, tích cực ngăn chặn hậu quả) để người có thẩm quyền lượng hóa chính xác mức phạt.
    • Bổ sung cơ chế, thủ tục và chế tài ràng buộc đối với cha mẹ hoặc người giám hộ trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ nộp phạt thay, bảo đảm tính khả thi và nghiêm minh của quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả, khóa luận đã:

  • Hệ thống hóa toàn diện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên từ cấp độ luật (Luật XLVPHC 2012 sửa đổi 2020, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Trẻ em 2016) đến hệ thống nghị định hướng dẫn thi hành (Nghị định 118/2021/NĐ-CP, Nghị định 144/2021/NĐ-CP).
  • Phân tích số liệu và khung phạt thực tế đối với các hành vi vi phạm trật tự công cộng (mức phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi từ 150.000 đồng đến 2.500.000 đồng theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP; trường hợp xử phạt 7,4 triệu đồng tại Long An).
  • Nhận diện chính xác 3 "điểm nghẽn" kỹ thuật lập pháp: quy định xác định tuổi không rõ ràng tại Điều 25 Nghị định 118/2021/NĐ-CP, cách hiểu tùy nghi về hệ số phạt "không quá 1/2" tại Điều 134, và thiếu vắng cơ chế cưỡng chế đối với người giám hộ không thực hiện nghĩa vụ thay thế.

Về đóng góp, công trình mang lại các giá trị:

  • Làm rõ cơ sở lý luận về tính độc lập của chế định xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, tách biệt với quan điểm truyền thống chỉ xem đây là một giai đoạn phụ trợ trong phòng chống tội phạm hình sự.
  • Đóng góp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn cho cơ quan quản lý nhà nước, các nhà lập pháp trong việc xây dựng đề án sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính và xây dựng các nghị định quy định chi tiết thi hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, đề tài xác định phạm vi thời gian từ năm 2012 đến nay và tập trung nghiên cứu thuần túy chế định xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên. Tác giả không đi sâu vào phân tích các biện pháp xử lý hành chính khác (như giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng theo Điều 136 Luật XLVPHC – vốn là đối tượng nghiên cứu của các công trình khác như luận án của Đào Thị Thu An) cũng như không mở rộng nghiên cứu sang nhóm các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (như nghiên cứu của Nguyễn Thanh Đăng Khoa). Phạm vi không gian nghiên cứu giới hạn trên lãnh thổ Việt Nam và nguồn số liệu khảo sát thực tế còn mang tính điểm hình, chưa bao quát số liệu thống kê toàn quốc.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản định hướng là:

  • Tiếp tục nghiên cứu cơ chế hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính theo hướng pháp điển hóa, hình thành một đạo luật toàn diện hoặc một chế định độc lập chuyên sâu về tư pháp đối với người chưa thành niên.
  • Mở rộng khảo sát, thống kê thực tiễn áp dụng các biện pháp xử phạt tại các địa phương cụ thể để đánh giá tác động thực thi của các nghị định mới ban hành.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật: Tài liệu cung cấp hệ thống lý luận chặt chẽ, tổng hợp đầy đủ các quan điểm học thuật (Bùi Tiến Đạt, Cao Vũ Minh, Nguyễn An Khôi...) và đối chiếu chi tiết các điều luật liên quan đến tư pháp người chưa thành niên.
  • Cán bộ, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính: Thuộc các cơ quan Công an nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thanh tra chuyên ngành... Phần phân tích thủ tục xử phạt (Chương 1) và các vướng mắc trong khâu xác định tuổi, tính mức phạt (Chương 2) là nguồn tham khảo quan trọng giúp hạn chế sai sót khi ban hành quyết định hành chính.
  • Cơ quan xây dựng pháp luật: Các kiến nghị tại Chương 3 cung cấp giải pháp lập pháp trực tiếp nhằm khắc phục các bất cập của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP.

Nội dung đáng tham khảo nhất của công trình là phần phân tích các đặc trưng tâm sinh lý gắn liền với 4 đặc điểm vi phạm hành chính (Chương 1) và phần phản biện kỹ thuật lập pháp tại Điều 25 Nghị định 118/2021/NĐ-CP cùng Khoản 3 Điều 134 Luật XLVPHC (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Người chưa thành niên ở độ tuổi nào và với hình thức lỗi nào thì bị xử phạt vi phạm hành chính?
Theo điểm a khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020), người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do lỗi cố ý. Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính (cả lỗi cố ý và lỗi vô ý). Người dưới 14 tuổi không phải là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính có bị phạt tiền hay không?
Không. Căn cứ khoản 3 Điều 134 và Điều 22 Luật Xử lý vi phạm hành chính, đối với mọi vi phạm hành chính do người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện, cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng hình thức xử phạt Cảnh cáo, tuyệt đối không áp dụng hình thức phạt tiền.

3. Nghị định 118/2021/NĐ-CP bộc lộ vướng mắc gì khi xử phạt người chưa thành niên không xác định được chính xác ngày, tháng sinh?
Khoản 1 Điều 25 Nghị định 118/2021/NĐ-CP quy định người có thẩm quyền "lựa chọn áp dụng hình thức xử phạt có lợi nhất cho người vi phạm". Vướng mắc phát sinh khi hành vi vi phạm chỉ có một chế tài duy nhất là phạt tiền cố định (không có lựa chọn cảnh cáo); lúc này người có thẩm quyền không thể tự ý chuyển sang phạt cảnh cáo, cũng không thể phạt dưới mức tối thiểu nếu không có tình tiết giảm nhẹ, dẫn đến việc thiếu cơ sở pháp lý vững chắc để ra quyết định xử phạt.

4. Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi được quy định như thế nào?
Căn cứ khoản 3 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính, mức tiền phạt áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên. Nếu phải nộp tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm thì số tiền nộp cũng bằng 1/2 trị giá tang vật, phương tiện đó.

5. Nếu người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi không có tiền nộp phạt thì ai sẽ thực hiện thay và pháp luật hiện hành gặp vướng mắc gì?
Theo khoản 3 Điều 134 Luật Xử lý vi phạm hành chính, trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay. Vướng mắc hiện nay là pháp luật chưa quy định chế tài xử lý hoặc biện pháp cưỡng chế thi hành nếu cha mẹ hoặc người giám hộ cố tình từ chối, không thực hiện nghĩa vụ nộp thay này.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đỗ Đức Thái đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, phân tích mối quan hệ mật thiết giữa đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và các nguyên tắc xử lý hành chính nhân văn. Công trình chỉ rõ những bất cập lớn trong kỹ thuật lập pháp hiện hành, đặc biệt là quy định xác định tuổi tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP và cơ chế lượng hóa mức phạt tiền, cưỡng chế trách nhiệm người giám hộ theo Luật Xử lý vi phạm hành chính. Các giải pháp và phương hướng hoàn thiện được đề xuất là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cho công tác nghiên cứu, giảng dạy luật học cũng như hoạt động lập pháp trong thời gian tới.