Phân Tích Nguyên Nhân Giảm Động Cơ Tuân Thủ Thuế Thu Nhập Cá Nhân Tại Tỉnh Thừa Thiên Huế

Khóa luận phân tích nguyên nhân giảm động cơ tuân thủ thuế thu nhập cá nhân tại tỉnh Thừa Thiên Huế, cung cấp cái nhìn sâu sắc và giải pháp.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

70
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1. Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân

1.2. Lịch sử ra đời và sự cần thiết của thuế thu nhập cá nhân

1.3. Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân

1.4. Đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân

1.5. Đối tượng thuế thu nhập cá nhân

1.6. Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân

1.7. Lý thuyết về hành vi tuân thủ thuế

1.8. Đề xuất mô hình nghiên cứu

1.9. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN NHÂN LÀM GIẢM ĐỘNG CƠ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1. Khái quát về Cục Thuế tỉnh Thừa Thiên Huế

2.2. Đặc điểm, cơ cấu tổ chức của Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế

2.3. Tình hình thu ngân sách của Cục thuế tỉnh Thừa Thiên Huế

2.4. Đánh giá tình hình thực hiện thu thuế TNCN của Cục thuế và tuân thủ thuế TNCN của người nộp thuế trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

2.5. Khảo sát mức độ tuân thủ trong việc khai và nộp thuế thu nhập cá nhân ở tỉnh Thừa Thiên Huế

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

3.1. Định hướng chính sách thuế TNCN

3.2. Giải pháp góp phần nâng cao hành vi tuân thủ thuế TNCN

3.3. Giải pháp đối với công tác quản lý thuế

3.4. Giải pháp đối với nhận thức thuế TNCN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nguyên Nhân Giảm Động Cơ Tuân Thủ Thuế TNCN Tại Thừa Thiên Huế

Nguyên nhân giảm động cơ tuân thủ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) tại Thừa Thiên Huế là một vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau. Tình hình thu ngân sách nhà nước tại tỉnh này cho thấy sự cần thiết phải tìm hiểu sâu về các nguyên nhân này. Theo báo cáo của Cục thuế tỉnh, tỷ lệ tuân thủ thuế TNCN đang có xu hướng giảm, điều này không chỉ ảnh hưởng đến ngân sách mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

1.1. Tình Hình Thuế TNCN Tại Thừa Thiên Huế

Tình hình thuế TNCN tại Thừa Thiên Huế đã có những biến động đáng kể trong những năm qua. Theo số liệu từ Cục thuế, số thu từ thuế TNCN chiếm khoảng 4% tổng thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, sự gia tăng của các hiện tượng như trốn thuế, gian lận thuế đang gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý thuế.

1.2. Đặc Điểm Của Người Nộp Thuế Tại Địa Phương

Đối tượng nộp thuế TNCN tại Thừa Thiên Huế chủ yếu là cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công và một số nguồn thu nhập khác. Đặc điểm này tạo ra những thách thức trong việc quản lý và thu thuế, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế đang phát triển nhanh chóng.

II. Các Vấn Đề Chính Gây Giảm Động Cơ Tuân Thủ Thuế TNCN

Có nhiều vấn đề chính dẫn đến việc giảm động cơ tuân thủ thuế TNCN tại Thừa Thiên Huế. Những vấn đề này không chỉ đến từ phía người nộp thuế mà còn từ chính sách thuế và cách thức quản lý của cơ quan thuế.

2.1. Thiếu Niềm Tin Vào Chính Sách Thuế

Nhiều người nộp thuế cảm thấy thiếu niềm tin vào sự công bằng của chính sách thuế. Họ cho rằng thuế TNCN không được phân phối công bằng và không mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Thực Hiện Quyết Toán Thuế

Quyết toán thuế TNCN thường gặp khó khăn do quy trình phức tạp và thiếu thông tin rõ ràng. Điều này khiến nhiều người nộp thuế cảm thấy mệt mỏi và không muốn thực hiện nghĩa vụ thuế của mình.

III. Phương Pháp Nâng Cao Động Cơ Tuân Thủ Thuế TNCN

Để nâng cao động cơ tuân thủ thuế TNCN, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Các giải pháp này cần được thực hiện đồng bộ và hiệu quả để đạt được kết quả mong muốn.

3.1. Cải Thiện Chính Sách Thuế

Cần cải thiện chính sách thuế để đảm bảo tính công bằng và minh bạch. Việc này sẽ giúp người nộp thuế cảm thấy yên tâm hơn khi thực hiện nghĩa vụ thuế của mình.

3.2. Tăng Cường Công Tác Thông Tin

Cần tăng cường công tác thông tin về thuế TNCN để người nộp thuế hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Việc này có thể thực hiện thông qua các buổi hội thảo, lớp tập huấn và các kênh truyền thông khác.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu về nguyên nhân giảm động cơ tuân thủ thuế TNCN tại Thừa Thiên Huế đã chỉ ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người nộp thuế. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này.

4.1. Kết Quả Khảo Sát Mức Độ Tuân Thủ

Kết quả khảo sát cho thấy mức độ tuân thủ thuế TNCN của người nộp thuế tại Thừa Thiên Huế đang ở mức thấp. Cần có những biện pháp khắc phục kịp thời để nâng cao tỷ lệ này.

4.2. Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các giải pháp cải thiện cần được đề xuất để nâng cao động cơ tuân thủ thuế TNCN. Những giải pháp này cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Tuân Thủ Thuế TNCN Tại Thừa Thiên Huế

Tương lai của việc tuân thủ thuế TNCN tại Thừa Thiên Huế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chính sách thuế, sự quản lý của cơ quan thuế và ý thức của người nộp thuế. Cần có những biện pháp cụ thể để nâng cao động cơ tuân thủ thuế trong thời gian tới.

5.1. Triển Vọng Tăng Trưởng Ngân Sách

Nếu các biện pháp được thực hiện hiệu quả, ngân sách nhà nước từ thuế TNCN có thể tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm tới, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

5.2. Tăng Cường Ý Thức Tuân Thủ Của Người Nộp Thuế

Tăng cường ý thức tuân thủ thuế của người nộp thuế là một yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống thuế TNCN tại Thừa Thiên Huế.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân. Lịch sử ra đời và sự cần thiết của thuế thu nhập cá nhân.

Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội. Đồng thời, tùy theo tính chất của các khoản thu nhập cá nhân, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên để tính thuế cho phù hợp. Thuế TNCN ra đời đầu tiên ở Hà Lan năm 1797, sau đó nhanh chóng áp dụng tại các nước công nghiệp như ở Anh năm 1799 với ý nghĩa như một hình thức tạm thu nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng vào năm 1942. Sau đó nhiều nước khác cũng áp dụng thuế này như: Nhật Bản năm 1887, Đức năm 1889, Mỹ năm 1913, Pháp năm 1916, Trung Quốc thì thuế thu nhập cá nhân ra đời năm 1914, tuy nhiên đến năm 1955 mới trở thành một sắc thuế độc lập, và Liên Xô năm 1922… Và Mỹ trở thành quốc gia có tỷ suất thuế TNCN lớn nhất thế giới, chiếm 30 – 60 % tổng thu vào ngân sách nhà nước.

Đến nay, đã có hơn 180 nước trên thế giới áp dụng thuế TNCN và mỗi quốc gia áp dụng thuế TNCN khác nhau. Hiện nay trên thế giới có 02 phương pháp đánh thuế: Có nước tính thuế từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân, có nước tính thuế trên tổng thu nhập của cả hộ gia đình:  Cách thứ nhất: được áp dụng phổ biến ở Anh, Nhật, Thụy Điển, các nước Châu Phi, Liên Xô, Hunggari, Tiệp Khắc và Việt Nam cũng áp dụng cách tính thuế 7 này… Ưu điểm của cách tính thuế này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước. Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả và đáp ứng được sự công bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều người phụ thuộc theo.  Cách thứ hai: được áp dụng ở Pháp, Hà Lan… Các chuyên gia cho rằng cách này công bằng hơn về mặt đạo đức xã hội nhưng không kịp thời vì mỗi gia đình đều có ít nhất hai người trở lên.

Đã có nhiều người thì sẽ có nhiều khoản thu nhập khác nhau, do đó phải mở sổ sách kế toán, theo dõi từng nguồn thu nhập và phải đối chiếu với nơi phát sinh thu nhập, vì có nhiều phức tạp nên rất ít quốc gia áp dụng cách này. Ở Việt Nam trước năm 1975, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế TNCN nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng năm 1962 sau đó được cải cách vào năm 1972. Hiện tại, cơ chế quản lý và cơ chế kinh tế đã thay đổi theo hướng kinh tế thị trường, mức độ phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn nên để thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, ngày 27/12/1990, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế TNCN, có hiệu lực từ ngày 01/04/1991. Để cho phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Quốc hội đã nhiều lần sửa đổi và bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 2001, 2004.

Ngày 21/11/2007 Quốc hội đã ban hành Luật thuế TNCN, được áp dụng vào 01/01/2009 và được sửa đổi ở luật thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13 ngày 01/07/2013, sau đó được sửa đổi một số điều tại luật 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014[11]. Bộ Tài chính cho rằng cần thiết phải xây dựng và ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân với những lý do sau: Thứ nhất, ban hành Luật thuế TNCN là cần thiết để thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, nhà nước về tài chính. Thứ hai, ban hành Luật thuế TNCN nhằm thực hiện công bằng xã hội, tăng cường kiểm tra kiểm soát, phân phối thu nhập và thu hẹp sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế. 8 Thứ ba, ban hành Luật thuế TNCN góp phần hoàn thiện chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ tư, ban hành Luật thuế TNCN nhằm đảm bảo ổn định nguồn lực cho ngân sách Nhà nước. Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân. Thuế TNCN là loại thế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận chính đáng của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định, thường là từng năm, từng tháng, từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập, nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách Nhà nước và có thể sử dụng để điều tiết nền kinh tế vĩ mô (Bộ Tài chính, 2008). Thuế TNCN là nguồn thu quan trọng của ngân sách quốc gia và là sắc thuế có phạm vi điều chỉnh rộng tác động trực tiếp đến lợi ích lao động của từng cá nhân trong xã hội nên thuế TNCN có gốc độ kỹ thuật tính thuế tương đối phức tạp.

Nhờ đó mới đảm bảo được công bằng xã hội, người có thu nhập cao hơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn một khoản thu nhập cao hơn so với người có thu nhập thấp khi chưa nộp thuế. Đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân. - Thuế TNCN là một loại thuế trực thu.

Tính chất trực thu của loại thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế. - Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế có độ nhạy cảm cao, là loại thuế liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp thuế và liên quan hầu hết các cá nhân trong xã hội. Người chịu thuế thường khó có thể chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác, nên tâm lý của người chịu thuế thường nặng nề hơn khi thực hiện nghĩa vụ thuế này so với thuế gián thu. - Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp.

Nó động viên một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà 9 nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp. - Thuế TNCN luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia, hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…) - Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần. Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất cao.

- Thuế thu nhập cá nhân không tác động nhiều đến giá cả hàng hóa dịch vụ. - Thuế thu nhập cá nhân có diện đánh thuế rất rộng và được thể hiện như sau: Một là, đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế chứ không phân biệt nguồn gốc phát sinh (trong nước hay ở nước ngoài) của khoản thu nhập đó. Hai là, toàn bộ những người có thu nhập đều là đối tượng phải kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân, bao gồm tất cả công nhân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của nhà nước về Luật thuế TNCN[1]. - Xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế thu nhập cá nhân hầu như không kéo theo những biến đổi về kinh tế.

Vai trò của thuế thu nhập cá nhân. - Góp phần tạo lập nguồn thu quan trọng cho NSNN: Thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng có phạm vi điều chỉnh rộng nên khả năng tạo được nguồn tài chính cho Nhà nước là rất lớn. Mặt khác, thuế TNCN càng có ý nghĩa ổn định nguồn ngân sách quốc gia trong bối cảnh giảm dần các loại thuế xuất nhập khẩu do yêu tự do hóa thương mại. Nền kinh tế nước ta càng ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của cá nhân ngày càng tăng từ đó thuế TNCN sẽ góp phần quan 1 trong vào việc tăng thu cho ngân sách Nhà nước.

- Là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội: Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi điểm thu nhập chịu thuế, có tính đến yếu tố giảm trừ gia cảnh, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm với mức biểu thuế lũy tiến từng phần đã điều tiết được thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội. Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông cư thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc có một số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Mặc dù thuế thu nhập cá nhân chưa mang lại số thu lớn cho ngân sách Nhà nước, song xét trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế thu nhập cá nhân có vị trí cực kì quan trọng, do đó việc điều tiết thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao là cần thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội.

- Là công cụ kinh tế vĩ mô được Nhà nước sử dụng điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm. Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiểm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ