MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc hậu và bị tàn phá nặng né sau chiến tranh. Trong những năm qua, Dang và nhà nước đã mạnh mẽ cập nhật và huy động mọi nguồn lực để đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, nguồn vốn đầu tư trong nước còn hạn chế, ngân sách quốc gia hạn hẹp, khó có thê đáp ứng được lượng vốn lớn cần thiết cho công cuộc tái thiết và xây dựng nên kinh tế, do đó nguồn vốn bên ngoài có ý nghĩa rất lớn đối với một đất nước như Việt Nam.
Trong đó, nguồn vốn vay ưu đãi nhất là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đã đóng vai trò to lớn trong phát triển đất nước. Do sự phù hợp của nguồn vốn nên cả nước rat coi trọng việc huy động và thu hút các nguồn vốn nay dé phát triển kinh tế. Việt Nam đã chính thức nhận hỗ trợ phát triển chính thức từ các nhà tài trợ trên thế giới vào năm 1993. Nguồn hỗ trợ này và các nguồn lực trong nước đã đóng góp đáng kể vào lĩnh vực đầu tư phát triển kinh tế, xã hội, đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình vào năm 2010.
Việt Nam được các nhà tài trợ ưu ái, đánh giá là điểm sáng trong thu hút và sử dụng các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức. Đặc biệt trong số các nước tài trợ ODA, Nhật Bản là quốc gia tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, quan hệ ngoại giao giữa hai nước ngày càng khăng khít.Theo chiến lược Phát triển kinh tế xã hội 2011 — 2020, Việt Nam ưu tiên phát triển các lĩnh vực trọng tâm như hoàn thiện thé chế, phát trién nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại. Đây cũng là lĩnh vực mà Nhật Bản ưu tiên tài trợ ODA. Nhiều dự án quy mô lớn tại Việt Nam đã được hoàn thành với nguồn vốn ODA của Nhật Bản, như: Dự án phát triển thành phố khoa học và công nghệ Hòa Lạc, dự án phát triển bệnh viện tỉnh và khu vực, dự án xây dựng đường nối từ sân bay quôc tê Nội Bài đên câu Nhật Tân.
Tuy nhiên, việc quản lý và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam bộc lộ nhiều hạn chế như tỷ lệ giải ngân ODA chậm không tương xứng với lượng vốn đã được ký kết, xảy ra tình trạng lãng phí, dùng vốn sai mục đích. Đặc biệt, ké từ năm 2010, khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thì việc thu hút ODA sẽ gap khó khăn hơn trước, cũng như là các ưu đãi của dòng vốn này sẽ giảm đi. Xuất phát từ lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “ Nguồn vốn ODA Nhật Bản trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2019” dé nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu Có thé thấy ODA nói chung và ODA trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại Việt Nam nói riêng luôn là nhóm đề tài nhận được nhiều sự chú ý và quan tâm của các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý, các tô chức trong và ngoài nước.
Chính vì vậy mà hiện nay có rất nhiều công trình, sách báo, dé tài nghiên cứu về nguồn von hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của các tác giả trong nước và trên thé giới. Do đó, có thể chia thành ba nhóm nghiên cứu như sau: 2. Các bài viết về ODA nói chung Các đề tài nghiên cứu về ODA nói chung đã được quan tâm và thực hiện từ rất sớm. Đa phần, mục đích của các bài nghiên cứu này là nhằm hoàn thiện những lý luận về khái niệm, định nghĩa và vai trò của ODA một cách chính xác, đầy đủ nhất.
Trong số đó phải kế đến: Nghiên cứu quan trọng của Helmut FUHRER vào năm 1996 về “A history of the development assistance committee and the development co-operation directorate in dates, names and figures” , bằng việc phân tích tông hợp, thống kê, so sánh và kế thừa các nghiên cứu trước đó, tac giả đã hệ thong hóa các khái niệm cũng như đặc điểm về nguồn vốn phát trién chính thức. Bài viết này nêu lên khái niệm sơ khai về nguồn vốn ODA theo định nghĩa của Tổ chức OECD năm 1969 như sau: “Nguồn vốn phát triển chính thức (được viết tắt là ODA) là nguồn vốn hỗ trợ dé tăng cường phát triển kinh tế và xã hội của các nước đang phát trién; trong đó thành tố hỗ trợ chiếm một khoảng xác định trong khoản tài trợ này”. Khái niệm này đã làm rõ sự khác biệt giữa ODA với các nguồn vốn đầu tư khác ở hai đặc điểm: (i) Đây là khoản hỗ trợ phát triển chính thức; (ii) Có bao gồm thành tố hỗ trợ Sau đó, các khái niệm về ODA đã bé sung và lượng hóa tỷ lệ phần trăm thành tổ hỗ trợ là 20-30% tùy vào nhà tài trợ và nước nhận tài trợ. Tuy nhiên theo thời gian, mục đích viện trợ cũng thay đổi, từ mục dich ban dau là hàn gan vết thương chiến tranh, về sau là trách nhiệm của các nước phát triển giúp các nước nghèo, lạc hậu dé phát triển kinh tế - xã hội.
Tun Lin Moe (2008) qua nghiên cứu “An empirical investigation of relationships between official development assistance (ODA) and human and educational development” nham điều tra mối quan hệ giữa viện trợ phát triển chính thức (ODA) và phát triển con người và giáo dục ở các nước trong khu vực Đông Nam Á. Nghiên cứu tập trung vào các quốc gia có trình độ phát triển con người trung bình, đó là Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Thái Lan, Philippines, Lào và Việt Nam. Tác giả đã đánh giá những nỗ lực thực hiện trong 15 năm trong việc cung cấp viện trợ phát triển, kết quả cho thấy: Vẫn còn khoảng cách trong các khía cạnh phát triển con người - thu nhập, giáo dục và y tế trong và giữa các quốc gia. Thứ hai, tổng sản phẩm quốc nội thực tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài có mối liên hệ tích cực đáng kể đến phát triển con người và giáo dục, trong khi ở cấp độ tổng thể, ODA chỉ có mối liên hệ tích cực đáng kê với phát triển con người.
Thứ ba, ODA nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội có mối quan hệ đáng ké với phát triển con người. Thứ tư, ODA phân bổ cho các cấp học không xác định, hoặc giáo dục sau trung học, cho thay mối liên hệ đáng kê với phát triển con người, trong khi ODA cung cấp cho giáo dục cơ bản, giáo dục trung học và sau trung học có môi quan hệ đáng kể với phát triển giáo dục. Các phát hiện và kết quả của bài nghiên cứu là định hướng hữu ích cho các bên liên quan chính, bao gồm các nhà tai trợ và chính phủ các nước nhận viện trợ, dé thiết kế các hệ thông viện trợ hiệu quả. Về đánh giá hiệu quả của ODA trong phát triển kinh té - xã hội của các nước dang phát triển: Các nghiên cứu cia Bonne (1996) và Lensink và Morrissey (2000) đã tập trung đánh giá hiệu quả của ODA đối với quá trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển từ quan điểm kinh tế vi mô, nêu lên những hạn chế và tác động tiêu cực của các nước đang phát triển khi nhận ODA.
Đó là, việc nhận viện trợ không 6n định và sự không chắc chăn từ bên ngoài đã tác động tiêu cực đến các chính sách tài chính và đầu tư của các nước nhận viện trợ. Các nghiên cứu này đã nêu bật trách nhiệm của các nước tài trợ. Ngoài ra, các tác giả cho rằng tác động của ODA là nguy hiểm và tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế, phần lớn là do tham nhũng và kém hiệu quả trong việc thực hiện các dự án ODA của nước tiêp nhận. Các công trình nghiên cứu của: Chenery va Strout (1996) nhấn mạnh tam quan trọng của nguồn vốn ODA.
Tác giả đã đi ngược với quan điểm Bonne, Lensink, Morrissey và lập luận rằng hỗ trợ phát triển từ các nước giàu cho các nước dang phát triển sẽ thu hẹp khoảng cách giàu — nghèo. Băng cách cung cấp nguồn von cần thiết ở giai đoạn đầu, vốn rat quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Các bài viết về ODA vào Việt Nam ODA là một nguồn ngoại lực quan trọng ở Việt Nam. Nguồn vốn này đã có những đóng góp quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo của đất nước.
Kê từ khi xuất hiện vào năm 1993 đến nay, ODA đã hỗ trợ xây dựng và phát triển nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trọng yêu của Việt Nam. Cũng chính vì thế, các chủ đề liên quan đến ODA vào Việt Nam được nhiều người quan tâm, rất nhiều bài nghiên cứu về ODA đã được thực hiện: Lê Thành Quang (2016) trong luận văn thạc sĩ kinh tế quốc tế đã nghiên cứu về Thu hút và sử dụng nguôn vốn ODA của Nhật Bản trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 — 2016. Dé hoàn thiện nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, chuyên gia quy nạp, diễn dịch để thực hiện nghiên cứu, và đối chiếu giữa chính sách quản lý, mục đích sử dụng và nguồn vốn ODA Nhật Bản vào Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Tác giả đã kết hợp lý luận và thực tiễn đồng thời tham khảo các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong ngoài nước liên quan đến nội dung nghiên cứu, cũng như sử dụng các số liệu tham khảo từ các cơ quan hữu quan và các số liệu từ tài liệu trong nước và ngoài nước dé từ đó đưa ra những kết luận cho bài nghiên cứu của mình: Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp theo đó chính sách, quy mô và điều kiện cung cấp ODA cho Việt Nam của các nhà tài trợ sẽ thay đổi, theo đó nguồn vốn ODA ưu đãi sẽ giảm dan, nguồn vốn ODA kém ưu đãi sẽ tăng hơn.
Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam nói chung vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nguồn vốn dau tư cho phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội bi thiếu hụt tram trọng. Trước các vẫn đề được đặt ra, tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị, như: Hoàn thiện thé chế chính sách về đầu tư công, hoàn thiện thé chế liên quan đến nguồn vốn ODA, kịp thời phân bồ vốn đối ứng. Nhà nước cần có chính sách thuế phù hợp, áp dụng thống nhất cho các dự án ODA, tăng cường năng lực quản lý và thực hiện các dự án ODA.