mở đầu cho lý thuyết hành động ngôn từ là Austin với cuốn How to do things và Searle với cuốn Speech acts. Theo lý thuyết này, "một lời nói bao giờ cũng phải được thực hiện thông qua các hành động ngôn từ (hành động nói) gồm ba hành động liên quan đến nhau. Đó là hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động dụng ngôn".32-33] Mỗi hành động ngôn từ trên có một tác dụng riêng và cụ thể cho mọi hoạt động lời nói. - Hành động tạo ngôn (locutionary act) là hành động nói tạo ra lời nói mang một lượng thông tin nhất định và truyền thông tin đó cho người ta biết.
- Hành động ngôn trung (illocutionary act) là hành động nói nhằm thực hiện mục đích giao tiếp nhất định của lời nói (đích ngôn trung) như trần thuật, cầu khiến, hỏi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng lực thông báo của một phát ngôn (lực ngôn trung). - Hành động dụng ngôn (perlocutionary act) là hành động nói nhằm đạt được hoặc gây hiệu quả nhất định đến tâm lý người nghe thông qua lời nói. Trong ba loại hành động trên, lý thuyết hành động ngôn từ quan tâm nhiều đến hành động ngôn trung vì nó có thể thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại [34, tr.35], bộc lộ tính cách của người phát ngôn. Hành động ngôn trung nằm ngay trong lời nói và được nhận diện bằng dấu hiệu ngôn ngữ ở mặt hình thức hoặc ở mặt ý nghĩa.34] Căn cứ theo đích ngôn trung, các hành động ngôn trung khái quát là trần thuật được phân chia thành các kiểu hành động ngôn từ cụ thể hơn là trình bày, đánh giá.
được phân biệt với các kiểu cầu khiến, hỏi. Trong đó, hành động trần thuật thuộc kiểu hành động trình bày. Ngôn ngữ trần thuật là hình thức biểu hiện của hành động ngôn từ trần thuật. Văn bản trần thuật có thể được coi như là một câu trần thuật được mở rộng nhằm kể lại các sự kiện cho người tiếp nhận trần thuật biết, đồng cảm và nhận xét cùng mình.
Quá trình tạo dựng một văn bản trần thuật của người trần thuật cũng là một hành động ngôn từ, cụ thể là hành động tạo ngôn. Phân tích ngôn ngữ trần thuật trong các văn bản tự sự tương đương với việc phân tích hành động ngôn trung, tức người trần thuật làm thế nào và bằng hình thức gì để phản ánh thực tại của một sự kiện và đồng thời, làm cho hành động ngôn từ của người trần thuật mang lại hiệu lực, hiệu quả nhất định. Hành động ngôn trung (tức mục đích trần thuật) của người trần thuật thường nằm trong diện ngôn ngữ và được nhận diện bằng các ký hiệu ngôn ngữ, đó là những hình thức biểu hiện của ngôn ngữ người trần thuật gồm các từ ngữ chỉ nhân xưng và ngôi, các từ ngữ và ngữ đoạn biểu thị nghĩa thời gian. Qua các dấu hiệu ngôn ngữ được thể hiện bằng hành động ngôn từ, người ta có thể nhận diện tính cách, tâm lý của người phát ngôn và do vậy, hành động trần thuật được phân tích một cách khách quan, khoa học hơn mà được giảm tính tư biện, chủ quan.
Vì vậy, việc phân tích tâm lý, tính cách nhân vật từ góc độ ngôn ngữ sẽ có tính khách quan, khoa học, giảm thiểu được tính tư biện, chủ quan.2 Các quan niệm theo hướng văn học 1.1 Một số quan niệm về "trần thuật" Muốn làm rõ khái niệm Ngôn ngữ trần thuật, trước tiên phải xác định trần thuật là gì. Theo quan niệm của ông Đàm Quân Cường, “trần thuật” là một quá trình giao lưu mà nội dung trần thuật với tư cách là thông tin được người phát ra thông tin (addresser) truyền đến cho người tiếp nhận thông tin (addressee) [65, tr. Không phải hễ ai đó mở miệng ra thì là “trần thuật”, trần thuật với nghĩa đen của nó là phải có sự kiện để thông báo, sự kiện đó có thể tồn tại thực sự trong thế giới thực tại lẫn hư cấu. Xác định một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com diễn ngôn/cú đoạn có phải đang tự sự, có thể xét dưới góc độ diễn ngôn đó được triển khai mở rộng từng bước một thành một câu chuyện hoặc lớn hoặc nhỏ, thậm chí là một tác phẩm tự sự.
Trần thuật có thể kể về sự kiện, sự tình chân thực, cũng có thể kể về sự tình hư cấu. Lý luận tự sự nghiên cứu về cái quá trình trần thuật xuất hiện trong văn bản trần thuật (narrative text) hay tác phẩm hư cấu (narrative fiction) [65, tr. Văn bản trần thuật là văn bản mà người phát ngôn của việc trần thuật trình bày (hay “kể”) về chuyện kể bằng một phương tiện trung gian như ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, nghệ thuật kiến trúc, hay bằng một thể phương tiện trung gian hỗn hợp. Vì thế, “văn bản” không phải cũng không thể đồng nhất với “chuyện kể”.
Chuyện kể được mã hóa bằng những ký hiệu ngôn ngữ và qua đó được cấu trúc và đưa vào văn bản bằng hành động “kể”. Chính hành động“kể” (trần thuật) đó sản sinh ra những ký hiệu ngôn ngữ và dẫn dắt cho ra mắt “người trần thuật”. Trọng tâm của trần thuật là một quá trình tương ứng trong nội bộ một tác phẩm tự sự, một quá trình giao lưu và truyền đạt nội dung trần thuật từ một người kể chuyện hư cấu đến một người tiếp nhận trần thuật hoặc hư cấu hoặc tiềm ẩn. Vai trần thuật có thể xuất hiện dưới những trạng thái khác nhau căn cứ theo vị trí trong quá trình trần thuật, trình độ tham gia vào câu chuyện.
Việc trần thuật được thể hiện qua một người trần thuật như thế cũng nhất định phải được sàng lọc qua một điểm nhìn nhất định. Nội dung trần thuật vậy cũng không thể nào nhất trí với trạng thái vốn có khi nó diễn ra, mà được trình diễn sau khi đã cấu trúc lại. Văn bản là trạng thái cuối cùng của những tổ hợp đó. Văn bản là một chỉnh thể có giới hạn và được tổ hợp lại bởi các ký hiệu ngôn ngữ hoặc môi giới, tức ngôn ngữ (discourse) miêu tả về những câu chuyện đó bằng lối nói hoặc viết.
12] Nếu ngôn ngữ ở đây được lý giải là sự diễn đạt và cấp bậc trần thuật của văn bản trần thuật thì câu truyện kể thuộc về đối tượng trần thuật hoặc cấp bậc được trần thuật. 12] Trong quá trình giao lưu của văn bản trần thuật, có thể phân chia ra các cấp bậc khác nhau, nhưng vấn đề là nguyên tắc phân chia là gì và phân chia như thế nào. 28] Manfred Jahn cho rằng việc giao lưu trong văn bản trần thuật ít nhất phải đề cập đến 3 cấp bậc, sự giao lưu giữa mỗi cấp bậc đều liên quan đến người phát ra và tiếp nhận thông tin của bản thân nó. 29] Cấp bậc giao lưu 1 là cấp bậc giao lưu chân thực hoặc giao lưu phi hư cấu được diễn ra giữa tác giả và độc giả, thuộc diện siêu văn bản (extratextual).
Theo chúng tôi, cấp bậc này thuộc về cấp bậc độc giả tiếp nhận và lí giải về tác phẩm theo kinh nghiệm của mình. Cấp bậc thứ 2 là cấp bậc điều phối hư cấu hoặc cấp bậc ngôn ngữ tự sự, ở cấp bậc này, người trần thuật hư cấu kể truyện cho một người tiếp nhận trần thuật được chỉ đinh hoặc vô định. Theo chúng tôi, cấp bậc này chỉ tất cả những hành vi trần thuật mang tính sáng chế, tức trần thuật của Genette. Cấp bậc thứ 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là cấp bậc hành động, các nhân vật chính của truyện giao lưu trong phạm vi cấp bậc này.
Đây là một cấp bậc thuộc diện câu chuyện hoặc là truyện kể. Cấp bậc 1 và 3 nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của luận án chúng tôi. Như vậy, các cấp bậc của văn bản tự sự được phân chia như sau: Cấp 1: giao lưu giữa tác giả chân thực và độc giả chân thực. Cấp 2: giao lưu giữa người trần thuật và người tiếp nhận trần thuật.
Người trần thuật được coi như là người diễn tả của các hình vi ngôn ngữ. Cấp 3: giao lưu giữa các nhân vật trong văn bản trần thuật, giao lưu này được triển khai hoặc được kể lại với một môi giới là người trần thuật. Có hai loại người trần thuật trong cấp 3. Một là người trần thuật nằm ngoài câu chuyện, đơn thuần đảm chức người kể chuyện và trình diễn câu chuyện bằng cách trần thuật.
Hai là người trần thuật đồng thời có tư cách là người tham gia vào câu chuyện, tức người trần thuật đồng thời cũng là nhân vật của truyện, chỉ khác nhau với các nhân vật khác ở chỗ trình độ tham gia vào câu chuyện mà thôi. Cấp 2 và 3 thuộc diện văn bản trần thuật [65, tr. 30-34] và chúng thuộc diện đối tượng nghiên cứu của chúng tôi. Nhưng phải chú ý, quan hệ giữa các cấp bậc của văn bản trần thuật không phải cô lập nhau và chỉ phát triển theo một chiều, mà là có thể giao lưu hai chiều giữa các cấp bậc đó.2 Một số quan niệm về Ngôn ngữ trần thuật Ngôn ngữ trần thuật là một khái niệm có nội hàm phong phú.
Khía cạnh nghiên cứu khác nhau thì sẽ có quan niệm và định nghĩa khác nhau. Genette khu biệt hình thức cấu tạo cơ bản của ngôn ngữ tự sự như sau: tất cả những ngôn ngữ xuất hiện trong một văn bản tự sự đều là ngôn ngữ/lời nói do người trần thuật phát ra/nói ra. Ngôn ngữ mà người trần thuật sử dụng trong văn bản tự sự được chia làm 3 hình thức cơ bản: một là ngôn ngữ/lời nói trực tiếp, là những ngôn ngữ/lời nói mà người trần thuật kể ra; hai là ngôn ngữ/lời nói gián tiếp, là ngôn ngữ/lời nói mà người trần thuật kể gián tiếp thông qua ngôn ngữ/lời nói của nhân vật trong hoặc ngoài câu chuyện; ba là ngôn ngữ/lời nói chuyển đổi, người trần thuật kể trực tiếp lời nói của nhân vật. Genette cho rằng, Ngôn ngữ trần thuật chủ yếu là nghiên cứu các mối quan hệ giữa tự sự (narrative) và chuyện kể, tự sự và trần thuật, chuyện kể và trần thuật.
Ông đưa ra ba phạm trù của tự sự(theo nghĩa hẹp) là thời gian, ngữ thể và ngữ thức. Giống như Genette, khi phân tích và trình bày khái niệm Ngôn ngữ trần thuật, Đàm Quân Cường vận dụng hệ thống lý thuyết Ngôn ngữ học của Saussure về ngôn ngữ và lời nói để miêu tả và thuyết minh cho cái đối tượng nghiên cứu của mình. Theo ông Đàm, sự khu biệt về ngôn ngữ và lời nói của Saussure có thể hình dung hai bình diện nghiên cứu khác nhau của lý luận tự sự. Một là hệ thống được tạo lập bởi tất cả các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.