Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ)" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hoàng Dĩ Đình (Huang Yiting), chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, mã số đào tạo 62 22 01 01, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Đinh Văn Đức tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2012.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định năm 1975 và đặc biệt là mốc đổi mới năm 1986 là bước ngoặt phân chia giai đoạn lịch sử cũng như văn học tại Việt Nam. Văn học giai đoạn này chuyển biến rõ rệt từ tính chất sử thi, đại diện cho tiếng nói dân tộc và quốc gia, sang tính chất thế sự, phản ánh đời sống thường nhật và số phận cá nhân. Thể loại truyện ngắn đóng vai trò nổi bật trong tiến trình đổi mới phương thức nghệ thuật, đặc biệt là với sự xuất hiện của đội ngũ tác giả nữ như Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Lê Minh Khuê, Trần Thanh Hà, Nguyễn Thị Phước, Trần Thị Trường. Dù số lượng truyện ngắn của các nhà văn nữ rất phong phú và thu hút nhiều bài viết phê bình trên báo chí, các công trình đi sâu khảo cứu ngôn ngữ trần thuật dưới góc độ ngôn ngữ học thuần túy với các phương pháp chuyên ngành vẫn còn khiêm tốn. Việc nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của ba nhà văn nữ tiêu biểu (Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo) là yêu cầu cần thiết nhằm làm sáng tỏ các đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật của truyện ngắn Việt Nam sau 1975.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:

  • 2.1 Mục đích nghiên cứu: Giới thuyết khái niệm Ngôn ngữ trần thuật cùng các yếu tố, vấn đề liên quan; sử dụng khái niệm này làm công cụ then chốt, chiếu ứng với đối tượng nghiên cứu để nhận diện loại hình ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩm truyện ngắn của các nhà văn nữ.
  • 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Vận dụng khái niệm Ngôn ngữ trần thuật vào khảo sát, phân tích và miêu tả đặc điểm các phương diện, cấp độ ngôn ngữ trong lời trần thuật; trên cơ sở đó chỉ ra những nét nổi bật trong phong cách ngôn ngữ của từng tác giả qua tác phẩm truyện ngắn.
    2. Đi sâu tìm hiểu đặc điểm, phong cách ngôn ngữ trần thuật và phân tích chiến lược trần thuật của các nhà văn nữ.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam, tập trung vào bốn phương diện: Người trần thuật, Điểm nhìn, Thời gian và các Hình thức ngôn ngữ đặc biệt.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các tác phẩm truyện ngắn sáng tác từ sau năm 1975 của ba cây bút nữ từng nhận giải thưởng văn học và thu hút sự chú ý của dư luận:

  • Phan Thị Vàng Anh: hai tập truyện Khi người ta trẻ và Hội chợ.
  • Nguyễn Thị Thu Huệ: hai tập truyện Hậu thiên đường và Nào, ta cùng lãng quên.
  • Võ Thị Hảo: hai tập truyện Truyện ngắn chọn lọc Võ Thị Hảo và Biển cứu rỗi.
  • Tư liệu bổ trợ: tập truyện Bốn cây bút nữ của tác giả Bùi Việt Thắng cùng một số tuyển tập liên quan.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả phân loại và điểm lại các hệ thống lý thuyết tự sự và ngôn ngữ trần thuật theo ba khu vực nghiên cứu chính:

Khu vực nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Tác phẩm / Công trình ghi nhận trong văn bản Năm công bố
Phương Tây Roland Barthes Introduction to the Structural Analysis of Narratives 1977
Gérard Genette Narrative Discourse – New Narrative Discourse 1972/1983
Paul Ricoeur La Configuration Du Temps Dans Le Récit De Fiction 1983–1985
Wallace Martin Recent Theories of Narrative 1986
Susan S. Lanser Fictions of Authority 1992
James Phelan Narrative as Rhetoric 1996
Mark Currie Postmodern Narrative Theory 1998
David Herman (chủ biên) Narratologies 1999
James Phelan & Peter J. Rabinowitz A Companion to Narrative Theory 2005
Mieke Bal Narratology: Introduction to the Theory of Narrative –
Seymour Chatman Nghiên cứu về cấu trúc giao tiếp của văn bản tự sự 1978
Trung Quốc Zhang YinDe (tuyển chọn) Tự sự học nghiên cứu 1989
Luo Gang Dẫn luận tự sự học 1994
Yang Yi Trung Quốc tự sự học 1997
Đổng Tiểu Anh (Dong Xiaoying) Trần thuật học 2001
Đàm Quân Cường (Tan Junqiang) Lý luận tự sự và văn hóa thẩm mỹ 2002
Geng Zhanchun Mỹ học tự sự 2002
Chen Pingyuan Sự chuyển biến của mô thức tự sự của tiểu thuyết Trung Quốc 2003
Wu Peixian Sơ khảo về mẫu/paradigm của ngôn ngữ tự sự trong tiểu thuyết đương đại 2003
Thân Đan (Shen Dan) Nghiên cứu về trần thuật học và phong cách học tiểu thuyết 2004
Zu Guosung (chủ biên) Con đường Trung Quốc của Tự sự học 2007
Việt Nam Phan Cự Đệ Tiểu thuyết Việt Nam những năm đổi mới –
Đặng Anh Đào Đổi mới tiểu thuyết phương Tây hiện đại 1995
Nguyễn Đức Dân Lôgic và Tiếng Việt 1996
Nguyễn Lai Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học 1998
Nguyễn Thái Hòa Những vấn đề thi pháp của truyện; bài viết về điểm nhìn nghệ thuật 2000
Lê Thị Tuyết Hạnh Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự (qua các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1995) 2003
Nguyễn Thị Thu Thủy Luận án TS Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện) 2003
Trần Đình Sử (chủ biên) Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử 2004
Các tác giả khác Lê Thời Tân, Thái Phan Vàng Anh, Cao Kim Lan, Bùi Việt Thắng –

Vị trí của luận án: Trước thời điểm công trình thực hiện, các phê bình về văn học nữ ở Việt Nam chủ yếu xoay quanh nội dung phản ánh hoặc vấn đề nữ quyền trên báo chí; các nghiên cứu về thi pháp tự sự nói chung thường khảo sát trên diện rộng của văn xuôi. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết lập cách tiếp cận chuyên biệt dưới lăng kính Ngôn ngữ học, kết hợp ba bình diện Kết học (cú pháp), Nghĩa học (ngữ nghĩa) và Dụng học (ngữ dụng) nhằm khảo sát có hệ thống các tiêu chí ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của ba nhà văn nữ tiêu biểu sau năm 1975.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng lý thuyết đa ngành giữa Ngôn ngữ học và Tự sự học (Narratology):

Về lý thuyết hành động ngôn từ, luận án kế thừa mô hình của J.L. Austin (How to do things with words) và J.R. Searle (Speech acts). Theo lý thuyết này, mỗi phát ngôn được cấu thành từ ba hành động liên đới:

  1. Hành động tạo ngôn (locutionary act): hành vi nói tạo ra chuỗi lời mang thông tin cụ thể.
  2. Hành động ngôn trung (illocutionary act): hành vi thực hiện mục đích giao tiếp (đích ngôn trung) thông qua hiệu lực của phát ngôn (lực ngôn trung), bao gồm các kiểu hành động như trần thuật, cầu khiến, hỏi. Hành động trần thuật thuộc nhóm hành động trình bày, được nhận diện qua các dấu hiệu hình thức và ngữ nghĩa.
  3. Hành động dụng ngôn (perlocutionary act): hành vi gây ra hiệu quả tâm lý, cảm xúc đối với người tiếp nhận.

Tác giả quan niệm văn bản trần thuật là một câu trần thuật mở rộng; việc người trần thuật xây dựng văn bản là hành vi tạo ngôn, còn phân tích ngôn ngữ trần thuật chính là phân tích hành động ngôn trung để xem người kể phản ánh thực tại bằng phương tiện gì và đem lại hiệu lực như thế nào.

Về lý thuyết tự sự học, tác giả tiếp thu quan điểm của Gérard Genette (phân định truyện kể, tự sự, trần thuật; ba phạm trù thời gian, ngữ thể, ngữ thức), Mieke Bal (tam phân văn bản, câu chuyện, tài liệu), Đàm Quân Cường và Đổng Tiểu Anh. Luận án định nghĩa: "Ngôn ngữ trần thuật là tất cả những hình thức ngôn ngữ dùng trong việc trần thuật." Cấu trúc ngôn ngữ trần thuật được xác lập qua ba thành tố cơ bản:

  • Người trần thuật (vai trần thuật): chủ thể của hành vi ngôn ngữ, mang tính hư cấu, phân biệt với tác giả chân thực và tác giả tiềm ẩn.
  • Điểm nhìn (góc nhìn): vị trí quan sát, cự ly và phương thức cảm nhận sự kiện của người trần thuật.
  • Thời gian: mối tương quan tuyến tính và phi tuyến tính giữa thời gian truyện kể và thời gian ngôn ngữ văn bản.

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án thuộc hướng định tính, cấu trúc - hệ thống, bao gồm:

  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: phân loại, thống kê miêu tả các phương tiện chỉ xuất ngôi, thời gian và lời dẫn.
  • Phương pháp so sánh: đối chiếu các kiểu người trần thuật, điểm nhìn bên trong và bên ngoài, so sánh phong cách giữa ba tác giả.
  • Phương pháp phân tích hệ thống: đặt các yếu tố ngôn ngữ trong cấu trúc chỉnh thể của văn bản nghệ thuật.
  • Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng: làm rõ ý nghĩa hiển ngôn, hàm ẩn và đích giao tiếp của phát ngôn trần thuật.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: phân tích cấp bậc và sự tương tác giữa các vai giao tiếp trong văn bản tự sự.

Nguồn tư liệu là các tác phẩm truyện ngắn in thành tập của Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ và Võ Thị Hảo xuất bản trong giai đoạn sau năm 1975.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý thuyết về Ngôn ngữ trần thuật

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm công cụ. Tác giả phân biệt rõ rệt giữa hai thuật ngữ "tự sự" và "trần thuật": tự sự là kết cấu thuật bổ bao gồm cả hành động kể (tự) và đối tượng được kể (sự); trong khi trần thuật gắn liền với chủ thể người trần thuật, chỉ bình diện diễn đạt ngôn ngữ. Tác giả tổng thuật ba mô hình giao tiếp văn bản tự sự, nổi bật là mô hình ba cấp bậc của Manfred Jahn do Đàm Quân Cường dẫn giải:

Cấp bậc giao lưu Bản chất cấp bậc Các nhân tố tham gia Thuộc diện
Cấp 1 Giao lưu chân thực, phi hư cấu Tác giả chân thực và Độc giả chân thực Siêu văn bản (Extratextual)
Cấp 2 Điều phối hư cấu, ngôn ngữ tự sự Người trần thuật và Người tiếp nhận trần thuật Văn bản trần thuật (Thoại ngữ)
Cấp 3 Hành động nội tại câu chuyện Các nhân vật chính của truyện Truyện kể (Story)

Ở bình diện Người trần thuật, chương 1 khẳng định người trần thuật là một chức năng ngôn ngữ, không đồng nhất với tác giả sáng tác; phân loại theo vị trí (đứng bên ngoài/phi nhân vật và đứng bên trong/nhân vật), theo mức độ nhận biết (hiện diện và tiềm ẩn), theo mức độ tin cậy (đáng tin cậy và đáng ngờ).

Ở bình diện Điểm nhìn, tác giả khảo sát quan niệm của Genette, Bal và Nguyễn Thái Hòa, xác định điểm nhìn nghệ thuật là một cấu trúc tiềm ẩn, gắn liền với việc lựa chọn nhân xưng và các kiểu thoại dẫn (thoại dẫn trực tiếp, gián tiếp, trực tiếp tự do, gián tiếp tự do).

Ở bình diện Thời gian, chương 1 phân tích quan niệm của Todorov, Genette, Bal, Đổng Tiểu Anh và Paul Ricoeur. Tác giả chỉ ra thời gian ngôn ngữ mang tính một chiều, trong khi thời gian sự kiện mang tính đa chiều; khảo sát các mối quan hệ thời gian qua ba trục: trật tự (thuận, ngược, đuổi, chêm), độ dài (tỉnh lược, khái quát, phối cảnh, giảm tốc độ, ngừng nghỉ) và tần số trần thuật.

Chương 2. Người trần thuật trong truyện ngắn các nhà văn nữ

Chương 2 khảo sát cấu trúc và sự phân loại người trần thuật trong tác phẩm của ba nhà văn nữ, tập trung vào cấp bậc trần thuật thứ nhất:

  1. Người trần thuật đứng bên ngoài truyện – người trần thuật phi nhân vật: Vai này không tham gia vào hành động của câu chuyện mà đứng ở cấp bậc cao hơn để kể lại sự việc của người khác hoặc dẫn truyện. Loại hình này được chia thành hai dạng cụ thể:
    • Người trần thuật ngôi thứ ba bên trong truyện: Người trần thuật kể câu chuyện thông qua điểm nhìn bên trong cố định của một nhân vật có tên riêng. Tác giả phân tích truyện ngắn Thiếu phụ chưa chồng của Nguyễn Thị Thu Huệ. Câu chuyện mang tư tưởng nhân quả báo ứng về mối quan hệ giữa My, Dương và Hảo. Người trần thuật mượn góc nhìn của nhân vật nhưng vẫn duy trì quyền lực quy chiếu, đưa ra các nhận xét, bình luận đánh giá đối với diễn biến và nhân vật.
    • Người trần thuật ngôi thứ ba bên ngoài truyện: Nhân vật được định danh bằng các đại từ phiếm chỉ hoặc danh xưng xa cách ("chàng", "nàng", "ông", "bà" như trong Hồn trinh nữ của Võ Thị Hảo), tạo ra giọng điệu mang tính quyền uy, khách quan.
  2. Người trần thuật đứng bên trong truyện – người trần thuật nhân vật: Người trần thuật xưng "tôi", là người trần thuật đồng câu chuyện, trực tiếp chứng kiến hoặc tham gia vào các biến cố.
  3. Mức độ được nhận biết của người trần thuật: Khảo sát sự dịch chuyển giữa người trần thuật lộ diện (thể hiện rõ dấu vết phát ngôn, can dự vào mạch kể bằng các nhận định) và người trần thuật giấu mình (hạn chế tối đa sự can thiệp, nhường lời cho sự việc và nhân vật tự bộc lộ).
  4. Mối quan hệ với tác giả tiềm ẩn: Phân tích các biểu hiện giá trị đạo đức, nhân sinh quan của tác giả tiềm ẩn được truyền tải qua giọng điệu của người trần thuật đáng tin cậy hoặc sự mỉa mai, giễu nhại của người trần thuật không đáng tin cậy.

Chương 3. Điểm nhìn trong truyện ngắn các nhà văn nữ

Chương 3 triển khai nghiên cứu điểm nhìn nghệ thuật dưới góc độ các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện:

  • Mối quan hệ giữa các yếu tố của điểm nhìn: Khảo sát vị trí quan sát, trường nhìn, góc nhìn tâm lý và ý thức hệ giữa chủ thể nhìn và đối tượng được nhìn.
  • Mối quan hệ giữa điểm nhìn và nhân xưng: Phân tích vai trò của đại từ nhân xưng và hệ thống ngôi kể; sự đan xen giữa "cái tôi trần thuật" (người kể chuyện ở thời điểm hiện tại của hành vi phát ngôn) và "cái tôi từng trải" (bản thân nhân vật "tôi" trong quá khứ khi sự việc đang diễn ra), tạo nên tính chất phức điệu trong cảm xúc.
  • Các phương thức ngôn ngữ làm thay đổi điểm nhìn:
    • Chuyển đổi ký hiệu ngôn ngữ biểu thị ngôi và đại từ nhân xưng.
    • Sử dụng các hình thức thoại dẫn: biến đổi linh hoạt giữa thoại dẫn trực tiếp, gián tiếp, và đặc biệt là thoại dẫn nửa trực tiếp (trực tiếp tự do, gián tiếp tự do) để làm nhòa ranh giới giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật.
    • Vận dụng các cấu trúc văn bản đặc thù như hình thức nhật ký, thư từ nhằm đưa điểm nhìn trượt sâu vào thế giới nội tâm khép kín của nhân vật nữ.

Chương 4. Thời gian trong truyện ngắn các nhà văn nữ

Chương 4 khảo cứu sự cấu trúc thời gian nghệ thuật trong mối quan hệ giữa câu chuyện và trần thuật:

  • Tính chất thời gian "một chiều": Hình thức trần thuật diễn tiến thuận dòng thời gian tự nhiên, liên tục theo quan hệ nhân quả.
  • Tính chất thời gian "đa chiều":
    • Tính chất thời gian "vô tuần tự": Sự phá vỡ trật tự tuyến tính bằng các thủ pháp trần thuật ngược (hồi tưởng quá khứ), trần thuật trước (dự báo tương lai), trần thuật chêm xen các chuỗi biến cố, và thủ pháp tỉnh lược thời gian để tạo độ nén cho cốt truyện.
    • Tính chất thời gian "vô thời": Sự ngưng đọng của thời gian vật lý bên ngoài để mở rộng không gian tâm trạng, thời gian tâm lý, cảm giác phi thời gian của các nhân vật nữ trước những bế tắc hoặc chấn thương tình cảm.
  • Các phương thức biểu hiện thời gian trong văn bản: Luận án hệ thống hóa các chỉ tố ngôn ngữ biểu đạt thời gian gồm:
    • Các từ ngữ chỉ xuất niên đại và mùa màng.
    • Hệ thống danh từ chỉ thời gian (giờ, ngày, đêm, tháng, năm, khoảnh khắc).
    • Các ký hiệu ngôn ngữ biểu thị trật tự trước – sau (trước khi, sau đó, thoạt đầu, cuối cùng).
    • Từ ngữ mang tính chất lịch sử – thời đại (phản ánh bối cảnh hậu chiến và giai đoạn đổi mới).
    • Các ngữ đoạn miêu tả trực tiếp trạng thái, biến chuyển của thời gian.

Kết quả và những đóng góp mới

Về giá trị lý luận:

  • Đây là công trình đầu tiên của một nghiên cứu sinh Trung Quốc khảo sát chuyên sâu về ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam dưới sự kết hợp liên ngành giữa Ngôn ngữ học, Ngữ nghĩa học, Ngữ dụng học và Tự sự học.
  • Đóng góp vào việc xây dựng hệ thống lý luận về ngôn ngữ trần thuật trong văn học nữ, sử dụng hệ thống đó làm công cụ tiếp cận thi pháp tự sự.
  • Xác lập hệ thống tiêu chí ngôn ngữ cụ thể (nhân xưng, ngôi kể, thoại dẫn, các chỉ tố thời gian) để nhận diện phương thức trần thuật.

Về giá trị thực tiễn:

  • Đổi mới phương pháp nghiên cứu văn học nữ qua lăng kính ngôn ngữ học thực nghiệm trên cấu trúc văn bản (kết hợp Kết học, Nghĩa học và Dụng học), khắc phục lối tiếp cận xã hội học đơn thuần.
  • Cung cấp kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trực tiếp vào việc phân tích phong cách học truyện ngắn nữ, tạo cơ sở để cảm thụ và đánh giá tác phẩm văn học một cách khách quan dựa trên cứ liệu ngôn ngữ.

Kiến nghị của luận án:

  • Đề xuất mở rộng hướng tiếp cận ngôn ngữ học cấu trúc và ngữ dụng học vào việc nghiên cứu các thể loại văn xuôi khác của văn học Việt Nam đương đại, kết hợp chặt chẽ việc phân tích ngôn ngữ học với thi pháp học tự sự để bảo đảm tính chuẩn xác của các nhận định văn học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế và phạm vi nghiên cứu do văn bản tự xác định:

  • Cấp bậc trần thuật: Luận án chỉ giới hạn khảo sát người trần thuật ở cấp bậc trần thuật thứ nhất (gắn với sự kiện lớn của câu chuyện khung), chỉ đề cập đến các cấp bậc trần thuật thấp hơn khi thực sự cần thiết cho việc lập luận.
  • Đối tượng nội dung: Luận án định vị nghiên cứu ngôn ngữ của người trần thuật; các yếu tố thuộc cấp bậc truyện kể thuần túy (sự kiện, tài liệu, hành động nhân vật và đối thoại độc lập giữa các nhân vật) nằm ngoài phạm vi khảo cứu.
  • Phạm vi tác giả: Luận án khảo sát giới hạn trên ngữ liệu truyện ngắn của ba nhà văn nữ (Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo) sau năm 1975, chưa mở rộng ra toàn bộ các cây bút nữ cùng thời kỳ.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ văn bản:

  • Mở rộng khảo sát ngôn ngữ trần thuật xuống các cấp bậc trần thuật thứ hai, thứ ba trong các cấu trúc truyện lồng truyện phức tạp.
  • Ứng dụng mô hình phân tích ngôn ngữ trần thuật sang các thể loại văn xuôi quy mô lớn hơn như tiểu thuyết của các tác giả nữ Việt Nam đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho các đối tượng học thuật sau:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, Ngôn ngữ học ứng dụng: Tham khảo mô hình vận dụng lý thuyết hành động ngôn từ (Austin, Searle) và phân tích diễn ngôn vào văn bản nghệ thuật.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam và Thi pháp học tự sự: Khai thác khung phân tích về người trần thuật, điểm nhìn nghệ thuật và kỹ thuật thể hiện thời gian qua các chỉ tố ngôn ngữ cụ thể.
  • Người nghiên cứu văn học nữ quyền và phong cách học: Tiếp cận phương pháp luận dung hợp giữa ba bình diện Kết học – Nghĩa học – Dụng học để đánh giá phong cách của từng nhà văn dựa trên cứ liệu ngôn bản thay vì suy diễn chủ quan.

Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là Chương 1 (hệ thống hóa khái niệm ngôn ngữ trần thuật và các mô hình giao tiếp văn bản) cùng các tiểu mục phân tích người trần thuật ngôi thứ ba bên trong và các phương thức chuyển dịch điểm nhìn ở Chương 2 và Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa và tiếp cận khái niệm "ngôn ngữ trần thuật" như thế nào?
Luận án định nghĩa ngôn ngữ trần thuật là toàn bộ những hình thức ngôn ngữ dùng trong việc trần thuật về một sự kiện cụ thể và diễn đạt quan điểm, nhận xét, đánh giá của người trần thuật đối với đối tượng. Tiếp cận theo lý thuyết hành động ngôn từ, ngôn ngữ trần thuật là hình thức biểu hiện của hành động tạo ngôn và hành động ngôn trung (thuộc kiểu trình bày), được nhận diện qua hệ thống ký hiệu nhân xưng, ngôi kể và các ngữ đoạn thời gian.

2. Tác giả phân biệt tác giả chân thực, tác giả tiềm ẩn và người trần thuật ra sao?
Dựa trên mô thức giao tiếp của S. Chatman và M. Jahn, tác giả khẳng định tác giả chân thực nằm ngoài văn bản tự sự (thuộc tầng siêu văn bản) và không tham gia hoạt động trần thuật. Tác giả tiềm ẩn là một nhân tố nội tại biểu đạt hệ giá trị của tác phẩm nhưng không trực tiếp đảm nhiệm công việc trần thuật. Người trần thuật là chủ thể hư cấu trực tiếp phát ngôn ra chuỗi ký hiệu ngôn ngữ để dẫn dắt câu chuyện tại cấp bậc thoại ngữ.

3. Khái niệm "người trần thuật ngôi thứ ba bên trong truyện" được minh họa qua tác phẩm nào?
Khái niệm này được minh họa qua truyện ngắn Thiếu phụ chưa chồng của Nguyễn Thị Thu Huệ. Người trần thuật ngôi thứ ba kể câu chuyện thông qua điểm nhìn bên trong cố định của các nhân vật My, Dương, Hảo; dù dùng ngôi thứ ba nhưng người trần thuật vẫn bộc lộ nhân sinh quan và triết lý nhân quả báo ứng qua các lời bình luận, đánh giá.

4. Những phương thức ngôn ngữ nào được ba nhà văn nữ sử dụng để làm thay đổi điểm nhìn?
Văn bản xác định ba phương thức chính: (1) Thay đổi các ký hiệu ngôn ngữ biểu thị ngôi và đại từ nhân xưng; (2) Sử dụng linh hoạt các dạng thoại dẫn, bao gồm thoại dẫn trực tiếp, gián tiếp, trực tiếp tự do và gián tiếp tự do; (3) Sử dụng các hình thức phi cốt truyện như nhật ký và thư từ để chuyển dịch điểm nhìn sâu vào nội tâm nhân vật.

5. Luận án phân loại các chỉ tố ngôn ngữ thể hiện thời gian trong truyện ngắn gồm những nhóm nào?
Chương 4 phân loại thành năm nhóm chỉ tố: (1) Từ ngữ chỉ xuất niên đại và mùa màng; (2) Các danh từ chỉ thời gian; (3) Các ký hiệu ngôn ngữ biểu thị trật tự tuần tự trước – sau; (4) Từ ngữ mang tính chất lịch sử – thời đại; (5) Các ngữ đoạn chuyên biệt dùng để miêu tả thời gian.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Hoàng Dĩ Đình là công trình nghiên cứu ngôn ngữ học liên ngành, kết hợp lý thuyết hành động ngôn từ với tự sự học để khảo sát hệ thống ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của ba nhà văn nữ Việt Nam sau 1975. Thông qua việc phân tích ba trụ cột chính là người trần thuật, điểm nhìn và thời gian, tác giả đã làm rõ các chiến lược trần thuật và đặc trưng phong cách của Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ và Võ Thị Hảo. Công trình đóng góp hệ thống tiêu chí ngôn ngữ học cụ thể, tạo tiền đề khoa học cho việc phân tích, cảm thụ văn bản tự sự một cách khách quan trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ thực nghiệm.