Luận án tiến sĩ về ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975

Luận án tiến sĩ phân tích ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn việt nam sau 1975 trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Chuyên ngành

Lý Luận Ngôn Ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2012

163
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

0.3. Đóng góp mới của luận án

0.4. Phạm vi nghiên cứu

0.5. Đối tượng nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT

1.1. Tổng quan những thành quả nghiên cứu về Ngôn ngữ trần thuật

1.1.1. Quan niệm theo hướng ngôn ngữ học-lý thuyết hành động ngôn

1.1.2. Các quan niệm theo hướng văn học

1.2. Quan niệm về "trần thuật" và "ngôn ngữ trần thuật"

1.2.1. Định nghĩa của "ngôn ngữ trần thuật"

1.2.2. Quan niệm về "người trần thuật" và phân loại "người trần thuật"

1.2.2.1. Quan niệm về "người trần thuật"
1.2.2.2. Phân loại "người trần thuật"

1.2.3. Quan niệm về "điểm nhìn" và phân loại "điểm nhìn"

1.2.3.1. Quan niệm về "điểm nhìn"
1.2.3.2. Phân loại "điểm nhìn" và các yếu tố của "điểm nhìn"

1.2.4. Quan niệm về "thời gian" và các yếu tố liên quan

1.3. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CÁC NHÀ VĂN NỮ

2.1. Cấp bậc trần thuật

2.2. Người trần thuật với cấp bậc trần thuật và trong quan hệ với truyện kể

2.3. Người trần thuật đứng bên ngoài truyện – người trần thuật phi nhân vật

2.4. Người trần thuật đứng bên trong truyện – người trần thuật nhân vật

2.5. Người trần thuật với mức độ được nhận biết trong truyện

2.6. Người trần thuật trong quan hệ với tác giả tiềm ẩn

2.7. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN NGẮN CÁC NHÀ VĂN NỮ

3.1. Các yếu tố của điểm nhìn

3.2. Mối quan hệ giữa các yếu tố của điểm nhìn

3.3. Mối quan hệ giữa điểm nhìn và nhân xưng

3.4. Vai trò của nhân xưng và ngôi trong điểm nhìn

3.5. Mối quan hệ giữa điểm nhìn với nhân xưng

3.6. Sự đan xen của cái tôi trần thuật và cái tôi từng trải

3.7. Các phương thức làm thay đổi điểm nhìn

3.7.1. Ký hiệu ngôn ngữ dùng để thể hiện ngôi – nhân xưng

3.7.2. Lời thoại dẫn trực tiếp, gián tiếp hoặc trực tiếp tự do, gián tiếp tự do

3.7.3. Các phương thức khác như nhật ký, thư từ

3.8. Tiểu kết

4. CHƯƠNG 4: THỜI GIAN TRONG TRUYỆN NGẮN CÁC NHÀ VĂN NỮ

4.1. Tính chất thời gian “vô tuần tự”

4.2. Tính chất thời gian “một chiều”

4.3. Tính chất thời gian “đa chiều”

4.4. Tính chất thời gian “vô thời”

4.5. Các phương thức biểu hiện thời gian trong văn bản

4.5.1. Các từ ngữ chỉ xuất niên đại và mùa màng

4.5.2. Những danh từ chỉ thời gian

4.5.3. Các ký hiệu khác dùng biểu thị tuần tự

4.5.4. Những từ ngữ mang tính chất lịch sử - thời đại

4.5.5. Những ngữ đoạn miêu tả về thời gian

4.6. Tiểu kết

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CHÚ THÍCH

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975

Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975 đã trở thành một chủ đề nghiên cứu hấp dẫn. Sự phát triển của thể loại này phản ánh những biến đổi trong xã hội và văn hóa Việt Nam. Các nhà văn nữ đã sử dụng ngôn ngữ trần thuật để thể hiện những trải nghiệm cá nhân và góc nhìn độc đáo về cuộc sống. Điều này không chỉ làm phong phú thêm văn học Việt Nam mà còn mở ra những hướng đi mới trong nghiên cứu ngôn ngữ học.

1.1. Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn nữ

Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn nữ thường mang tính chất tự sự, gần gũi và chân thực. Các tác giả nữ đã khéo léo kết hợp giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời thường, tạo nên một phong cách viết độc đáo. Sự đa dạng trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh và cấu trúc câu đã giúp cho tác phẩm trở nên sinh động và hấp dẫn hơn.

1.2. Vai trò của ngôn ngữ trần thuật trong việc thể hiện nhân vật

Ngôn ngữ trần thuật không chỉ là công cụ để kể chuyện mà còn là phương tiện để thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân vật. Qua ngôn ngữ, độc giả có thể cảm nhận được những xung đột nội tâm, những nỗi đau và niềm vui của nhân vật. Điều này giúp cho nhân vật trở nên gần gũi và dễ đồng cảm hơn với người đọc.

II. Những thách thức trong việc phân tích ngôn ngữ trần thuật

Phân tích ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975 gặp phải nhiều thách thức. Một trong số đó là sự đa dạng trong phong cách viết của các tác giả. Mỗi nhà văn có cách tiếp cận và sử dụng ngôn ngữ khác nhau, điều này tạo ra khó khăn trong việc xác định các tiêu chí phân tích chung.

2.1. Sự đa dạng trong phong cách ngôn ngữ

Mỗi nhà văn nữ có một phong cách riêng, từ cách sử dụng từ ngữ đến cấu trúc câu. Điều này làm cho việc phân tích trở nên phức tạp hơn. Các nhà nghiên cứu cần phải tìm ra những điểm chung và khác biệt trong ngôn ngữ trần thuật của từng tác giả để có cái nhìn tổng quát hơn.

2.2. Khó khăn trong việc xác định tiêu chí phân tích

Việc xác định các tiêu chí phân tích ngôn ngữ trần thuật là một thách thức lớn. Các nhà nghiên cứu cần phải cân nhắc giữa việc giữ nguyên tính độc đáo của từng tác phẩm và việc áp dụng các lý thuyết ngôn ngữ học để có được những kết quả chính xác.

III. Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn nữ

Để nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn nữ, các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học cần được áp dụng một cách linh hoạt. Việc kết hợp giữa lý thuyết ngôn ngữ học và phân tích văn học sẽ giúp cho việc nghiên cứu trở nên sâu sắc và toàn diện hơn.

3.1. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng

Phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng giúp làm rõ cách mà ngôn ngữ được sử dụng trong các tác phẩm. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ trần thuật mà còn giúp khám phá những ý nghĩa sâu xa trong tác phẩm.

3.2. Phương pháp so sánh giữa các tác giả

So sánh giữa các tác giả sẽ giúp làm nổi bật những điểm khác biệt và tương đồng trong cách sử dụng ngôn ngữ trần thuật. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về từng tác giả mà còn giúp xác định những xu hướng chung trong văn học nữ Việt Nam.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật

Nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn nữ không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Những kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để phát triển chương trình giảng dạy văn học tại các trường học.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy văn học

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các bài giảng về ngôn ngữ trần thuật trong văn học nữ. Điều này sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện ý tưởng và cảm xúc trong tác phẩm.

4.2. Ứng dụng trong nghiên cứu văn học

Nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật cũng có thể mở ra những hướng đi mới trong nghiên cứu văn học. Các nhà nghiên cứu có thể áp dụng các phương pháp phân tích ngôn ngữ học để khám phá sâu hơn về các tác phẩm văn học nữ.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật

Nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975 đã mở ra nhiều hướng đi mới trong nghiên cứu văn học. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển với sự xuất hiện của nhiều tác giả mới và những phong cách viết độc đáo.

5.1. Tương lai của nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật

Với sự phát triển không ngừng của văn học nữ, nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật sẽ tiếp tục được mở rộng. Các nhà nghiên cứu cần phải cập nhật những xu hướng mới trong văn học để có cái nhìn toàn diện hơn.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu mới

Các hướng nghiên cứu mới có thể bao gồm việc khám phá ngôn ngữ trần thuật trong các tác phẩm của các tác giả trẻ, hoặc việc so sánh giữa ngôn ngữ trần thuật trong văn học nữ và văn học nam. Điều này sẽ giúp làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn việt nam sau 1975 trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho lý thuyết hành động ngôn từ là Austin với cuốn How to do things và Searle với cuốn Speech acts. Theo lý thuyết này, "một lời nói bao giờ cũng phải được thực hiện thông qua các hành động ngôn từ (hành động nói) gồm ba hành động liên quan đến nhau. Đó là hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động dụng ngôn".32-33] Mỗi hành động ngôn từ trên có một tác dụng riêng và cụ thể cho mọi hoạt động lời nói. - Hành động tạo ngôn (locutionary act) là hành động nói tạo ra lời nói mang một lượng thông tin nhất định và truyền thông tin đó cho người ta biết.

- Hành động ngôn trung (illocutionary act) là hành động nói nhằm thực hiện mục đích giao tiếp nhất định của lời nói (đích ngôn trung) như trần thuật, cầu khiến, hỏi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng lực thông báo của một phát ngôn (lực ngôn trung). - Hành động dụng ngôn (perlocutionary act) là hành động nói nhằm đạt được hoặc gây hiệu quả nhất định đến tâm lý người nghe thông qua lời nói. Trong ba loại hành động trên, lý thuyết hành động ngôn từ quan tâm nhiều đến hành động ngôn trung vì nó có thể thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại [34, tr.35], bộc lộ tính cách của người phát ngôn. Hành động ngôn trung nằm ngay trong lời nói và được nhận diện bằng dấu hiệu ngôn ngữ ở mặt hình thức hoặc ở mặt ý nghĩa.34] Căn cứ theo đích ngôn trung, các hành động ngôn trung khái quát là trần thuật được phân chia thành các kiểu hành động ngôn từ cụ thể hơn là trình bày, đánh giá.

được phân biệt với các kiểu cầu khiến, hỏi. Trong đó, hành động trần thuật thuộc kiểu hành động trình bày. Ngôn ngữ trần thuật là hình thức biểu hiện của hành động ngôn từ trần thuật. Văn bản trần thuật có thể được coi như là một câu trần thuật được mở rộng nhằm kể lại các sự kiện cho người tiếp nhận trần thuật biết, đồng cảm và nhận xét cùng mình.

Quá trình tạo dựng một văn bản trần thuật của người trần thuật cũng là một hành động ngôn từ, cụ thể là hành động tạo ngôn. Phân tích ngôn ngữ trần thuật trong các văn bản tự sự tương đương với việc phân tích hành động ngôn trung, tức người trần thuật làm thế nào và bằng hình thức gì để phản ánh thực tại của một sự kiện và đồng thời, làm cho hành động ngôn từ của người trần thuật mang lại hiệu lực, hiệu quả nhất định. Hành động ngôn trung (tức mục đích trần thuật) của người trần thuật thường nằm trong diện ngôn ngữ và được nhận diện bằng các ký hiệu ngôn ngữ, đó là những hình thức biểu hiện của ngôn ngữ người trần thuật gồm các từ ngữ chỉ nhân xưng và ngôi, các từ ngữ và ngữ đoạn biểu thị nghĩa thời gian. Qua các dấu hiệu ngôn ngữ được thể hiện bằng hành động ngôn từ, người ta có thể nhận diện tính cách, tâm lý của người phát ngôn và do vậy, hành động trần thuật được phân tích một cách khách quan, khoa học hơn mà được giảm tính tư biện, chủ quan.

Vì vậy, việc phân tích tâm lý, tính cách nhân vật từ góc độ ngôn ngữ sẽ có tính khách quan, khoa học, giảm thiểu được tính tư biện, chủ quan.2 Các quan niệm theo hướng văn học 1.1 Một số quan niệm về "trần thuật" Muốn làm rõ khái niệm Ngôn ngữ trần thuật, trước tiên phải xác định trần thuật là gì. Theo quan niệm của ông Đàm Quân Cường, “trần thuật” là một quá trình giao lưu mà nội dung trần thuật với tư cách là thông tin được người phát ra thông tin (addresser) truyền đến cho người tiếp nhận thông tin (addressee) [65, tr. Không phải hễ ai đó mở miệng ra thì là “trần thuật”, trần thuật với nghĩa đen của nó là phải có sự kiện để thông báo, sự kiện đó có thể tồn tại thực sự trong thế giới thực tại lẫn hư cấu. Xác định một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com diễn ngôn/cú đoạn có phải đang tự sự, có thể xét dưới góc độ diễn ngôn đó được triển khai mở rộng từng bước một thành một câu chuyện hoặc lớn hoặc nhỏ, thậm chí là một tác phẩm tự sự.

Trần thuật có thể kể về sự kiện, sự tình chân thực, cũng có thể kể về sự tình hư cấu. Lý luận tự sự nghiên cứu về cái quá trình trần thuật xuất hiện trong văn bản trần thuật (narrative text) hay tác phẩm hư cấu (narrative fiction) [65, tr. Văn bản trần thuật là văn bản mà người phát ngôn của việc trần thuật trình bày (hay “kể”) về chuyện kể bằng một phương tiện trung gian như ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, nghệ thuật kiến trúc, hay bằng một thể phương tiện trung gian hỗn hợp. Vì thế, “văn bản” không phải cũng không thể đồng nhất với “chuyện kể”.

Chuyện kể được mã hóa bằng những ký hiệu ngôn ngữ và qua đó được cấu trúc và đưa vào văn bản bằng hành động “kể”. Chính hành động“kể” (trần thuật) đó sản sinh ra những ký hiệu ngôn ngữ và dẫn dắt cho ra mắt “người trần thuật”. Trọng tâm của trần thuật là một quá trình tương ứng trong nội bộ một tác phẩm tự sự, một quá trình giao lưu và truyền đạt nội dung trần thuật từ một người kể chuyện hư cấu đến một người tiếp nhận trần thuật hoặc hư cấu hoặc tiềm ẩn. Vai trần thuật có thể xuất hiện dưới những trạng thái khác nhau căn cứ theo vị trí trong quá trình trần thuật, trình độ tham gia vào câu chuyện.

Việc trần thuật được thể hiện qua một người trần thuật như thế cũng nhất định phải được sàng lọc qua một điểm nhìn nhất định. Nội dung trần thuật vậy cũng không thể nào nhất trí với trạng thái vốn có khi nó diễn ra, mà được trình diễn sau khi đã cấu trúc lại. Văn bản là trạng thái cuối cùng của những tổ hợp đó. Văn bản là một chỉnh thể có giới hạn và được tổ hợp lại bởi các ký hiệu ngôn ngữ hoặc môi giới, tức ngôn ngữ (discourse) miêu tả về những câu chuyện đó bằng lối nói hoặc viết.

12] Nếu ngôn ngữ ở đây được lý giải là sự diễn đạt và cấp bậc trần thuật của văn bản trần thuật thì câu truyện kể thuộc về đối tượng trần thuật hoặc cấp bậc được trần thuật. 12] Trong quá trình giao lưu của văn bản trần thuật, có thể phân chia ra các cấp bậc khác nhau, nhưng vấn đề là nguyên tắc phân chia là gì và phân chia như thế nào. 28] Manfred Jahn cho rằng việc giao lưu trong văn bản trần thuật ít nhất phải đề cập đến 3 cấp bậc, sự giao lưu giữa mỗi cấp bậc đều liên quan đến người phát ra và tiếp nhận thông tin của bản thân nó. 29] Cấp bậc giao lưu 1 là cấp bậc giao lưu chân thực hoặc giao lưu phi hư cấu được diễn ra giữa tác giả và độc giả, thuộc diện siêu văn bản (extratextual).

Theo chúng tôi, cấp bậc này thuộc về cấp bậc độc giả tiếp nhận và lí giải về tác phẩm theo kinh nghiệm của mình. Cấp bậc thứ 2 là cấp bậc điều phối hư cấu hoặc cấp bậc ngôn ngữ tự sự, ở cấp bậc này, người trần thuật hư cấu kể truyện cho một người tiếp nhận trần thuật được chỉ đinh hoặc vô định. Theo chúng tôi, cấp bậc này chỉ tất cả những hành vi trần thuật mang tính sáng chế, tức trần thuật của Genette. Cấp bậc thứ 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là cấp bậc hành động, các nhân vật chính của truyện giao lưu trong phạm vi cấp bậc này.

Đây là một cấp bậc thuộc diện câu chuyện hoặc là truyện kể. Cấp bậc 1 và 3 nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của luận án chúng tôi. Như vậy, các cấp bậc của văn bản tự sự được phân chia như sau: Cấp 1: giao lưu giữa tác giả chân thực và độc giả chân thực. Cấp 2: giao lưu giữa người trần thuật và người tiếp nhận trần thuật.

Người trần thuật được coi như là người diễn tả của các hình vi ngôn ngữ. Cấp 3: giao lưu giữa các nhân vật trong văn bản trần thuật, giao lưu này được triển khai hoặc được kể lại với một môi giới là người trần thuật. Có hai loại người trần thuật trong cấp 3. Một là người trần thuật nằm ngoài câu chuyện, đơn thuần đảm chức người kể chuyện và trình diễn câu chuyện bằng cách trần thuật.

Hai là người trần thuật đồng thời có tư cách là người tham gia vào câu chuyện, tức người trần thuật đồng thời cũng là nhân vật của truyện, chỉ khác nhau với các nhân vật khác ở chỗ trình độ tham gia vào câu chuyện mà thôi. Cấp 2 và 3 thuộc diện văn bản trần thuật [65, tr. 30-34] và chúng thuộc diện đối tượng nghiên cứu của chúng tôi. Nhưng phải chú ý, quan hệ giữa các cấp bậc của văn bản trần thuật không phải cô lập nhau và chỉ phát triển theo một chiều, mà là có thể giao lưu hai chiều giữa các cấp bậc đó.2 Một số quan niệm về Ngôn ngữ trần thuật Ngôn ngữ trần thuật là một khái niệm có nội hàm phong phú.

Khía cạnh nghiên cứu khác nhau thì sẽ có quan niệm và định nghĩa khác nhau. Genette khu biệt hình thức cấu tạo cơ bản của ngôn ngữ tự sự như sau: tất cả những ngôn ngữ xuất hiện trong một văn bản tự sự đều là ngôn ngữ/lời nói do người trần thuật phát ra/nói ra. Ngôn ngữ mà người trần thuật sử dụng trong văn bản tự sự được chia làm 3 hình thức cơ bản: một là ngôn ngữ/lời nói trực tiếp, là những ngôn ngữ/lời nói mà người trần thuật kể ra; hai là ngôn ngữ/lời nói gián tiếp, là ngôn ngữ/lời nói mà người trần thuật kể gián tiếp thông qua ngôn ngữ/lời nói của nhân vật trong hoặc ngoài câu chuyện; ba là ngôn ngữ/lời nói chuyển đổi, người trần thuật kể trực tiếp lời nói của nhân vật. Genette cho rằng, Ngôn ngữ trần thuật chủ yếu là nghiên cứu các mối quan hệ giữa tự sự (narrative) và chuyện kể, tự sự và trần thuật, chuyện kể và trần thuật.

Ông đưa ra ba phạm trù của tự sự(theo nghĩa hẹp) là thời gian, ngữ thể và ngữ thức. Giống như Genette, khi phân tích và trình bày khái niệm Ngôn ngữ trần thuật, Đàm Quân Cường vận dụng hệ thống lý thuyết Ngôn ngữ học của Saussure về ngôn ngữ và lời nói để miêu tả và thuyết minh cho cái đối tượng nghiên cứu của mình. Theo ông Đàm, sự khu biệt về ngôn ngữ và lời nói của Saussure có thể hình dung hai bình diện nghiên cứu khác nhau của lý luận tự sự. Một là hệ thống được tạo lập bởi tất cả các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ