Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của kỷ nguyên số, ngôn ngữ giao tiếp của giới trẻ đang trải qua những biến chuyển sâu sắc, đặc biệt là sự xuất hiện của các biến thể ngôn ngữ phi chuẩn. Tại Việt Nam, lứa tuổi học sinh trung học cơ sở từ 12 đến 15 tuổi đang là nhóm đối tượng chịu tác động mạnh mẽ nhất từ môi trường mạng Internet và mạng xã hội. Nghiên cứu của học viên Hoàng Hà Ngân tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số 8220102), dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hạnh Phương, đã giải quyết trực diện vấn đề cấp thiết này với tỷ lệ kiểm tra tương đồng học thuật đạt 18% qua hệ thống Turnitin.

Mục tiêu cốt lõi của luận văn là nhận diện, phân loại, mô tả các đặc điểm ngữ nghĩa - cấu tạo của ngôn ngữ phi chuẩn, đồng thời đánh giá toàn diện tác động hai chiều của hiện tượng này đối với tâm lý và đạo đức học sinh. Về mặt phạm vi, đề tài tiến hành khảo sát thực chứng trên 435 học sinh thuộc 4 khối lớp (lớp 6, 7, 8, 9) tại 3 trường trung học cơ sở trọng điểm của thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn cuối năm 2022 và hoàn thiện vào tháng 5 năm 2024. Đóng góp nổi bật của công trình là xây dựng hệ thống giải pháp giáo dục ngôn ngữ chuẩn mực được chuẩn hóa theo khung kế hoạch hoạt động giáo dục tại Phụ lục II, Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng trực tiếp yêu cầu phát triển năng lực ngôn ngữ của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết Ngôn ngữ học xã hội hiện đại, tiêu biểu là quan điểm phân tầng ngôn ngữ theo độ tuổi của William Labov (1970) và các công trình nền tảng của Ralph Fasold. Tại Việt Nam, tác giả kế thừa hệ thống lý luận của Giáo sư Nguyễn Văn Khang (2014, 2015) về phương ngữ xã hội, ngôn ngữ mạng và sự biến động của tiếng Việt thông qua giao tiếp trộn mã. Bên cạnh đó, luận văn vận dụng các nghiên cứu chuyên sâu của Phó Giáo sư Nguyễn Văn Hiệp (2014) và Tiến sĩ Đặng Thị Diệu Trang (2015) nhằm làm sáng tỏ tính hai mặt của ngôn ngữ giới trẻ.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 5 khái niệm cốt lõi: ngôn ngữ phi chuẩn (non-standard language), chuẩn ngôn ngữ (linguistic norm), phương ngữ xã hội (sociolect), ngôn ngữ mạng (cyberlanguage/teen code), và hiện tượng chuyển mã - trộn mã ngôn ngữ (code-switching/code-mixing). Dưới góc nhìn ngôn ngữ học, ngôn ngữ phi chuẩn được định nghĩa là biến thể ngôn ngữ chịu sự chi phối của các nhân tố xã hội như độ tuổi, hoàn cảnh giao tiếp, xuất hiện qua các hình thức kết hợp từ mới lạ, tiếng lóng, viết tắt, biến âm và vay mượn tiếng nước ngoài. Đồng thời, tác giả liên hệ với mô hình 4 nhân tố chi phối ngôn ngữ thế kỷ 21 của Mark McCrindle (2011) gồm: công nghệ số, văn hóa đại chúng, tính đa văn hóa và toàn cầu hóa để giải thích động lực tạo từ của lứa tuổi thiếu niên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu N = 435 học sinh, được chọn lọc theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 3 trường trung học cơ sở tiêu biểu: Trường THCS Độc Lập (145 học sinh), Trường THCS Trưng Vương (145 học sinh) và Trường THCS Nha Trang (145 học sinh). Cỡ mẫu được phân bổ đồng đều ở cả 4 khối: Khối 6 có 110 học sinh, Khối 7 có 109 học sinh, Khối 8 có 106 học sinh và Khối 9 có 110 học sinh. Lý do lựa chọn 3 trường này là vì đây là các cơ sở giáo dục có chất lượng đào tạo tốp đầu đô thị, nơi 100% học sinh có điều kiện tiếp cận sớm với thiết bị thông minh, phản ánh chân thực nhất xu hướng ngôn ngữ mạng.

Về phương pháp phân tích, tác giả kết hợp chặt chẽ giữa định lượng và định tính:

  1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Bảng hỏi gồm 6 phần với 5 câu hỏi trắc nghiệm đo lường tần suất, đối tượng, không gian giao tiếp và 1 câu hỏi mở thu thập ngữ liệu thực tế.
  2. Phương pháp miêu tả và thống kê phân loại: Phân tích cấu trúc ngữ âm, hình thái học và ngữ nghĩa của hơn 100 đơn vị từ ngữ phi chuẩn thu thập được.
  3. Phương pháp quan sát thực tiễn: Thu thập ngữ liệu trực tiếp từ các nền tảng mạng xã hội phổ biến như TikTok, Facebook, Instagram và qua giao tiếp học đường trong suốt giai đoạn từ tháng 11 năm 2022 đến tháng 12 năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế 435 học sinh trung học cơ sở tại thành phố Thái Nguyên đã mang lại những phát hiện định lượng mang tính bước ngoặt về hành vi ngôn ngữ:

Thứ nhất, có sự phân hóa rõ rệt về đối tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ phi chuẩn. Tỷ lệ học sinh sử dụng ngôn ngữ phi chuẩn với bạn bè đồng trang lứa chiếm vị trí áp đảo với 94,5% (411/435 học sinh) và với người ít tuổi hơn là 86,9% (378/435 học sinh). Nhóm đối tượng anh chị chiếm 59,3% (258/435 học sinh). Đáng chú ý, chỉ có 8,5% (37/435 học sinh) thừa nhận có sử dụng ngôn ngữ phi chuẩn với người lớn như ông bà, cha mẹ, thầy cô.

Thứ hai, tác giả đã phân loại và nhận diện 8 hình thức ngôn ngữ phi chuẩn đặc trưng đang thịnh hành:

  • Kết hợp từ và cấu trúc câu mới lạ dựa trên lối gieo vần dân gian: "chảnh như con cá cảnh", "chuẩn không cần chỉnh", "ảo tung chảo", "ngất trên cành quất".
  • Biến âm và cố tình viết sai chính tả: "zui zẻ" (vui vẻ), "iu nhắm" (yêu lắm), "dư lào" (như nào), "xin lũi" (xin lỗi).
  • Mã hóa chữ cái bằng con số: "8 0?" (tám không - nói chuyện không?), "29" (tonight - tối nay), "66771508" (xấu xấu bẩn bẩn một năm không tắm).
  • Kỹ thuật viết tắt độc dị: "pp" (bye bye), "g9" (goodnight), "j z tr" (gì vậy trời).
  • Tiếng lóng mang tính khẩu ngữ: "bánh bèo", "củ chuối", "quẩy", "trẻ trâu", "vãi".
  • Chêm xen tiếng Anh vào câu tiếng Việt: "ok anh", "rất sorry bạn", "destiny của tôi", "tiền ship".
  • Ghép từ lai tạp Anh - Việt tạo nghĩa mới: "lemỏn" (lemon + hỏi = chảnh), "fishu" (fish + u = cáu), "bigc" (big + c = bực).
  • Dịch nghĩa thô từng từ (word-by-word) và chạy theo xu hướng mạng xã hội: "no star where" (không sao đâu), "seven love" (thất tình), "trmúa hmề" (chúa hề), "xu cà na" (xui xẻo), "mlem mlem" (ngon/đẹp), "ô dề" (làm quá).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu định lượng từ khảo sát có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ hình cột về đối tượng giao tiếp, phản ánh rõ nét ranh giới xã hội học trong ngôn ngữ. Kết quả chỉ ra rằng học sinh trung học cơ sở hoàn toàn nhận thức được ngữ cảnh giao tiếp: các em chỉ bung tỏa ngôn ngữ tự chế trong không gian ngang hàng (chiếm trên 90%) nhằm thể hiện cá tính, sự dí dỏm và khẳng định sự độc lập khỏi sự kiểm soát của người lớn. Đây là đặc điểm tâm lý tự nhiên của giai đoạn dậy thì từ 12 đến 15 tuổi, tương đồng với phát hiện của Mark McCrindle về sự khác biệt thế hệ.

So sánh với các công trình nghiên cứu giai đoạn 2014-2018 của Nguyễn Văn Hiệp hay Đỗ Thùy Trang (vốn tập trung vào thế hệ 8x, 9x), ngôn ngữ phi chuẩn của học sinh trung học cơ sở năm 2024 có tốc độ biến đổi nhanh hơn gấp nhiều lần nhờ thuật toán đề xuất của TikTok. Mức độ lai tạp giữa tiếng Anh và tiếng Việt không còn dừng ở việc chêm từ đơn lẻ mà đã tiến hóa thành các hình thức ghép âm tiết, hoán đổi thanh điệu vô cùng phức tạp. Mặc dù giúp tăng tính biểu cảm trong giao tiếp thân mật, việc lạm dụng quá đà các biến thể này đang dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng: làm nghèo nàn vốn từ vựng thuần Việt, gây lỗi chính tả nghiêm trọng trong các bài viết văn nghị luận và làm đảo lộn các quy tắc ngữ pháp tiếng Việt chuẩn mực.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế và căn cứ vào định hướng của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Ngữ văn, tác giả đề xuất 5 giải pháp hành động cụ thể cho các trường trung học cơ sở:

  1. Tổ chức tọa đàm định kỳ: Triển khai chương trình tọa đàm chuyên đề "Học sinh THCS và vấn đề sử dụng ngôn ngữ" với tần suất 1 lần mỗi học kỳ. Mục tiêu là nâng cao nhận thức cho tối thiểu 95% học sinh toàn trường về ranh giới giữa sáng tạo ngôn từ lành mạnh và hành vi làm méo mó tiếng Việt.
  2. Xây dựng sân chơi học thuật tương tác: Phát động cuộc thi "Rung chuông vàng tiếng Việt" vào tháng 10 và tháng 3 hàng năm. Hoạt động do Tổ Ngữ văn phối hợp cùng Đoàn Đội thực hiện, hướng đến việc chuẩn hóa vốn từ Hán - Việt, từ thuần Việt và quy tắc chính tả cho 100% học sinh khối 6 đến khối 9.
  3. Triển khai dự án học tập trải nghiệm: Thiết kế dự án "Tìm hiểu vấn đề sử dụng ngôn ngữ phi chuẩn của học sinh hiện nay" dưới hình thức thu thập dữ liệu và phỏng vấn thực địa, tích hợp vào các tiết Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp theo đúng khung giờ quy định tại Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH.
  4. Tổ chức hội thảo sáng tạo: Mở các buổi "Workshop sáng tạo ngôn ngữ" nhằm hướng dẫn học sinh cách vận dụng từ ngữ nghệ thuật, nghệ thuật chơi chữ trong văn học dân gian thay vì lạm dụng tiếng lóng vô nghĩa, dự kiến triển khai thử nghiệm tại 3 câu lạc bộ văn học nhà trường.
  5. Thiết lập mô hình "Đối tác ngôn ngữ" (Language Buddy): Xây dựng các đôi bạn cùng tiến trong lớp học, thực hiện kiểm tra chéo và loại bỏ 100% các từ viết tắt, từ ngữ phi chuẩn trong các bài kiểm tra viết và bài tập nhóm trước khi nộp cho giáo viên bộ môn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  • Giáo viên Ngữ văn bậc trung học cơ sở: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trực tiếp để thiết kế giáo án phần Thực hành tiếng Việt, đồng thời nắm bắt tâm lý học trò để có phương pháp uốn nắn, sửa lỗi diễn đạt kịp thời trong các bài làm văn.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và Ban giám hiệu nhà trường: Vận dụng hệ thống 5 chương trình hoạt động tại Chương 3 để đưa vào kế hoạch giáo dục nhà trường hàng năm, xây dựng bộ quy tắc ứng xử văn hóa học đường chuẩn mực.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu ngôn ngữ: Kế thừa khung lý thuyết ngôn ngữ học xã hội, phương pháp thiết kế bảng hỏi khảo sát thực chứng và nguồn ngữ liệu ngôn ngữ mạng đương đại của thế hệ thanh thiếu niên giai đoạn 2022-2024.
  • Phụ huynh học sinh và chuyên viên tư vấn tâm lý học đường: Tiếp cận bức tranh toàn cảnh về cách thức giao tiếp của con em mình trên không gian mạng, từ đó thu hẹp khoảng cách thế hệ, thấu hiểu tâm lý lứa tuổi 12-15 và định hướng văn hóa giao tiếp gia đình hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

  1. Ngôn ngữ phi chuẩn của học sinh có đồng nghĩa với việc vi phạm chuẩn mực đạo đức hay không? Không hoàn toàn. Ngôn ngữ phi chuẩn là một hiện tượng ngôn ngữ học xã hội tự nhiên nhằm giải tỏa cảm xúc và thể hiện cá tính lứa tuổi. Hiện tượng này chỉ trở nên tiêu cực và vi phạm đạo đức khi học sinh lạm dụng các từ ngữ mang tính thô tục, xúc phạm người khác hoặc sử dụng sai hoàn cảnh giao tiếp trang trọng.

  2. Tại sao học sinh trung học cơ sở lại sử dụng ngôn ngữ phi chuẩn với bạn bè lên tới 94,5%? Lứa tuổi từ 12 đến 15 tuổi là giai đoạn phát triển tâm lý muốn khẳng định cái tôi và tính tự chủ. Giao tiếp với bạn bè đồng trang lứa là môi trường an toàn nhất để các em thể hiện sự hài hước, bắt kịp xu hướng công nghệ số và tạo dựng bản sắc riêng biệt mà không bị người lớn phán xét.

  3. Tỷ lệ 8,5% học sinh sử dụng ngôn ngữ phi chuẩn với người lớn phản ánh điều gì? Con số 8,5% cho thấy đại đa số học sinh trung học cơ sở (hơn 91%) vẫn giữ được ý thức tôn ti trật tự và phân biệt rõ thứ bậc giao tiếp trong gia đình và nhà trường. Tuy nhiên, 8,5% còn lại là dấu hiệu cảnh báo về sự vô thức biến thói quen nói tiếng lóng trên mạng thành phản xạ giao tiếp đời thực.

  4. Nhà trường có thể ứng dụng các đề xuất trong luận văn vào chương trình mới như thế nào? Giáo viên có thể chuyển hóa trực tiếp 5 mô hình hoạt động giáo dục (như Tọa đàm, Rung chuông vàng, Dự án học tập) thành các bài học Hoạt động trải nghiệm hoặc tích hợp vào các tiết Thực hành tiếng Việt theo đúng khung kế hoạch của Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH.

  5. Việc kết hợp tiếng Anh và tiếng Việt như "lemỏn", "fishu" có giúp học sinh giỏi ngoại ngữ hơn không? Hoàn toàn không. Đây chỉ là hình thức chơi chữ lai tạp mang tính giải trí cơ học giữa phát âm tiếng Anh và thanh điệu tiếng Việt. Cách dùng này không giúp phát triển năng lực ngữ pháp hay từ vựng chuẩn mực của cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, thậm chí còn gây hiểu sai ngữ nghĩa gốc.

Kết luận

  • Luận văn đã tổng kết toàn diện cơ sở lý luận về ngôn ngữ học xã hội và xác lập bức tranh thực trạng sử dụng ngôn ngữ phi chuẩn của 435 học sinh trung học cơ sở tại Thái Nguyên.
  • Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ sử dụng ngôn ngữ phi chuẩn đạt 94,5% trong nhóm bạn bè và 86,9% với người ít tuổi, phản ánh nhu cầu khẳng định bản sắc thế hệ mãnh liệt của lứa tuổi 12-15.
  • Công trình đã hệ thống hóa và phân tích bản chất của 8 hình thức ngôn ngữ phi chuẩn phổ biến, từ tiếng lóng truyền thống đến các sáng tạo lai tạp Anh - Việt trên nền tảng số.
  • Đóng góp thực tiễn lớn nhất của đề tài là xây dựng 5 mô hình hoạt động giáo dục ngôn ngữ có tính khả thi cao, tương thích hoàn toàn với Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH.
  • Trong giai đoạn 2024-2026, các nhà nghiên cứu và cơ sở giáo dục cần tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát sang khu vực nông thôn, miền núi, đồng thời cùng chung tay hành động để bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt trong kỷ nguyên chuyển đổi số.