Tài liệu Y tế: Ngô văn tùng đánh giá nhận thức thực hành vệ sinh tay của

Nghiên cứu đánh giá nhận thức và thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương năm 2018.

Chuyên ngành

Quản lý Dược

Tác giả

Ngô Văn Tùng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2018

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu Ngô Văn Tùng đánh giá nhận thức thực hành

Nghiên cứu của Ngô Văn Tùng là một luận văn Được sĩ chuyên khoa cấp I về đánh giá nhận thức và thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Huyện Nam Sách, Tỉnh Hải Dương năm 2018. Công trình này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Thanh Bình tại Trường Đại học Dược Hà Nội. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá mức độ nhận thức về vệ sinh taytuân thủ thực hành giữa cán bộ y tế. Đây là một vấn đề quan trọng trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, vì bàn tay được coi là một trong những đường lây truyền chính của các tác nhân gây bệnh trong môi trường y tế.

1.1. Mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu

Mục đích chính của nghiên cứu Ngô Văn Tùngđánh giá toàn diện nhận thức của nhân viên y tế về tầm quan trọng và cách thức vệ sinh tay đúng. Từ đó xác định mức độ tuân thủ thực hành vệ sinh tay trong công việc hàng ngày. Ý nghĩa của công trình này nằm ở việc cung cấp bằng chứng khoa học để hỗ trợ các chương trình nâng cao kiến thức và thực hành vệ sinh tay cho nhân viên y tế, góp phần kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện hiệu quả.

1.2. Phạm vi và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu Ngô Văn Tùng được tiến hành tại Bệnh viện Đa khoa Huyện Nam Sách ở Tỉnh Hải Dương, một cơ sở y tế cấp huyện. Phạm vi đánh giá nhận thứcthực hành vệ sinh tay bao gồm toàn bộ nhân viên y tế hoạt động trực tiếp tại các khoa lâm sàng. Thời gian thực hiện từ tháng 7 đến hết tháng 11 năm 2018, cung cấp dữ liệu khá toàn diện trong một giai đoạn nhất định.

II. Các nội dung chính trong đánh giá nhận thức vệ sinh tay

Phần đánh giá nhận thức trong luận văn Ngô Văn Tùng tập trung vào ba lĩnh vực cốt lõi: hiểu biết về vai trò của bàn tay trong lây truyền vi khuẩn, nhận thức về tầm quan trọng vệ sinh tay, và kiến thức về quy trình vệ sinh tay đúng cách. Các nhà nghiên cứu sử dụng các công cụ đánh giá nhận thức như phiếu khảo sát và phỏng vấn để thu thập dữ liệu từ nhân viên y tế. Kết quả cho thấy mức độ nhận thức về vệ sinh tay của nhân viên có sự khác biệt tùy theo vị trí công việc và trình độ học vấn. Những phát hiện này quan trọng để xây dựng các chương trình can thiệp nâng cao nhận thức phù hợp với từng nhóm cán bộ y tế.

2.1. Nhận thức về vai trò lây truyền vi khuẩn

Trong đánh giá nhận thức, Ngô Văn Tùng tìm hiểu mức độ hiểu biết của nhân viên y tế về bàn tay như trung gian lây truyền vi khuẩn. Nhiều nhân viên y tế chưa nhận thức đầy đủ rằng bàn tay chứa vi khuẩn có thể gây nhiễm khuẩn bệnh viện nếu không vệ sinh sạch sẽ. Đánh giá nhận thức cho thấy cần thiết phải nâng cao kiến thức về cơ chế lây truyền của các tác nhân gây bệnh.

2.2. Nhận thức về tầm quan trọng và cách thức vệ sinh tay

Đánh giá nhận thức của Ngô Văn Tùng cũng đánh giá mức độ nhận thức về sự cần thiết vệ sinh tay trong từng hoạt động y tế cụ thể. Bên cạnh đó, công trình đánh giá kiến thức về quy trình vệ sinh tay đúng cách theo tiêu chuẩn quốc tế. Kết quả đánh giá chỉ ra những khoảng trống kiến thức cần khắc phục để cải thiện thực hành vệ sinh tay của nhân viên.

III. Kết quả giám sát thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế

Phần giám sát thực hành vệ sinh tay trong luận văn Ngô Văn Tùng là một yếu tố then chốt để đánh giá sự khác biệt giữa nhận thức và hành động thực tế. Các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp giám sát trực tiếp để quan sát và đánh giá quy trình vệ sinh tay của nhân viên y tế trong các tình huống thực tế. Kết quả giám sát thực hành cho thấy mức độ tuân thủ vệ sinh tay ở các cơ hội khác nhau, chẳng hạn như trước khi tiếp xúc với bệnh nhân, trước khi thực hiện thủ thuật sạch, sau tiếp xúc với dịch cơ thể. Những phát hiện này giúp xác định những lĩnh vực cần cải thiện thực hành vệ sinh tay trong cơ sở y tế.

3.1. Mức độ tuân thủ vệ sinh tay theo cơ hội

Giám sát thực hành của Ngô Văn Tùng cho thấy nhân viên y tế tuân thủ vệ sinh tay với tỷ lệ khác nhau tùy vào cơ hội cụ thể. Ví dụ, thực hành vệ sinh tay trước khi tiếp xúc bệnh nhân có tỷ lệ tuân thủ thấp hơn so với sau tiếp xúc dịch cơ thể. Đánh giá này giúp xác định những cơ hội cao rủi ro cần tập trung nâng cao nhận thức và thực hành vệ sinh tay.

3.2. Đúng cách thực hiện quy trình vệ sinh tay

Kết quả giám sát trong đánh giá nhận thức của Ngô Văn Tùng cũng đánh giá tính chính xác của quy trình vệ sinh tay được thực hiện. Nhiều nhân viên y tế chưa thực hiện đúng các bước rửa tay chuẩn như rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc chà tay bằng dung dịch chứa cồn. Đánh giá cho thấy cần nâng cao đào tạo về kỹ thuật vệ sinh tay đúng cách để cải thiện thực hành này.

IV. Kết luận và ý nghĩa của nghiên cứu Ngô Văn Tùng

Nghiên cứu đánh giá nhận thức và thực hành vệ sinh tay của Ngô Văn Tùng đã cung cấp những bằng chứng quan trọng về tình trạng hiện tại và những khoảng trống giữa nhận thức và thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế tại một cơ sở y tế cấp huyện. Công trình này không chỉ đánh giá hiện trạng mà còn đưa ra các khuyến nghị cụ thể để nâng cao nhận thứccải thiện thực hành vệ sinh tay. Các biện pháp được đề xuất bao gồm nâng cao đào tạo về kiến thức, tăng cường giám sát thực hành, và xây dựng văn hóa an toàn trong cơ sở y tế. Ý nghĩa của nghiên cứu Ngô Văn Tùng nằm ở việc đánh giá và hỗ trợ kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện hiệu quả, bảo vệ sức khỏe và an toàn của cả nhân viên y tế lẫn bệnh nhân.

4.1. Những phát hiện chính và ý nghĩa thực tiễn

Đánh giá nhận thức của Ngô Văn Tùng phát hiện ra rằng mặc dù nhiều nhân viên y tế có kiến thức cơ bản về vệ sinh tay, nhưng thực hành còn nhiều thiếu sót. Điều này cho thấy cần phải nâng cao không chỉ nhận thức mà còn cần các biện pháp thực tế để cải thiện thực hành vệ sinh tay. Ý nghĩa của đánh giá này là cung cấp cơ sở khoa học cho các chương trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tại các cơ sở y tế tương tự.

4.2. Các khuyến nghị và hướng phát triển tiếp theo

Dựa trên kết quả đánh giá nhận thức và thực hành, Ngô Văn Tùng đề xuất các khuyến nghị bao gồm: tăng cường đào tạo về vệ sinh tay, thiết lập chương trình giám sát định kỳ, và xây dựng các quy định ràng buộc về vệ sinh tay trong cơ sở y tế. Những khuyến nghị này nhằm mục đích nâng cao nhận thứccải thiện thực hành vệ sinh tay một cách bền vững, góp phần kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/12/2025
Ngô văn tùng đánh giá nhận thức thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa huyện nam sách tỉnh hải dƣơng năm 2018 luận văn dƣợc sĩ chuyên khoa cấp i hà nội 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hàng năm Tổ chức UNICEF tổ chức ngày rửa tay toàn cầu 5/5 nhằm mục đích khuyến khích ngƣời dân nâng cao ý thức vệ sinh tay để đảm bảo sức khỏe cho chính mọi ngƣời và tránh lây truyền các loại vi khuẩn gây các bệnh nguy hiểm cho mọi ngƣời và cộng đồng. Đây là một chƣơng trình mang tính chất toàn cầu và đƣợc hầu hết các quốc gia trên thế giới đồng tình ủng hộ, trong đó có Việt Nam. Rửa tay hàng ngày bảo vệ cho sức khỏe mọi ngƣời nói chung và đặc biệt quan trọng trong ngành y tế nói riêng. Bàn tay là trung gian lây truyền hầu hết các bệnh và dẫn đến nhiễm khuẩn bệnh viện.

Nhiễm khuẩn bệnh viện là một trong các nguyên nhân hàng đầu đe dọa sự an toàn của ngƣời bệnh, làm tăng tỉ lệ ngƣời bệnh tử vong, tăng biến chứng, tăng ngày nằm điều trị, tăng mức sử dụng kháng sinh, tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật, tăng chi phí dùng thuốc và tăng gánh nặng bệnh tật cho cả ngƣời bệnh và hệ thống y tế [1]. Theo tổ chức y tế thế giới khuyến cáo rửa tay là biện pháp đơn giản, rẻ tiền và hiệu quả nhất để phòng tránh các bệnh lây truyền nguy hiểm nhƣ các bệnh về giun sán, tiêu chảy, chân tay miệng và hô hấp. Rửa tay là trách nhiệm của mỗi bác sỹ, điều dƣỡng, kĩ thuật viên, hộ lý và những ngƣời làm trong bệnh viện[19]. Theo những nghiên cứu trên thế giới, trên 1cm2 da bàn tay của ngƣời bình thƣờng có chứa tới 40.

Bàn tay của một ngƣời có thể mang tới 4,6 triệu mầm bệnh [12]. Và theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO) chỉ mỗi động tác rửa tay đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn Shigella từ ngƣời sang ngƣời. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng rửa tay làm giảm nhiễm khuẩn hô hấp từ 19% đến 35%. Tại Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về phổ vi khuẩn trên bàn tay.

Số lƣợng vi khuẩn và loại vi khuẩn trên bàn tay của nhân viên y tế rất sát với 1 những nghiên cứu trên thế giới. Theo kết quả nghiên cứu của Bác sĩ Huỳnh Minh Tuấn, Bệnh viện đại học y dƣợc thành phố Hồ Chí Minh thì có tổng cộng 11 loại vi khuẩn xuất hiện trên bàn tay của NVYT trong nghiên cứu, trong đó các vi khuẩn, vi sinh vật chủ yếu là Staphylococcicoagulase âm, nấm, Acinetobacter spp, S. Aureus, Enterobacter, Hafnia, Klebsiella, E.coli và Pantoea- agglomerans. Bộ y tế đã sớm ban hành những thông tƣ, quy định, quy trình về vệ sinh tay trong công tác khám chữa bệnh và các trƣờng cũng đƣa chƣơng trình rửa tay vào giảng dạy cho các sinh viên y dƣợc.

Điều đó nói lên tầm quan trọng của việc vệ sinh tay [2],[3]. Mối liên quan giữa vệ sinh tay và nhiễm khuẩn bệnh viện: VST làm giảm NKBV ở NB và NVYT. Nghiên cứu can thiệp điển hình của Semmelweis thực hiện năm 1847 cho thấy tỷ lệ tử vong ở sản phụ giảm từ 18% xuống 5% sau ít tháng triển khai khử khuẩn tay bắt buộc bằng dung dịch chloride. Gần đây, nhiều nghiên cứu tại những khu vực lâm sàng khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả phòng ngừa NKBV của thực hành VST thƣờng quy đã cho thấy tỷ lệ NKBV giảm khi cải thiện tỷ lệ tuân thủ VST ở NVYT, đặc biệt ở những khu vực có nhiều thủ thuật xâm nhập nhƣ cấp cứu, hồi sức tích cực, ngoại khoa, nhi khoa.

Nhìn chung, thực hiện tốt VST làm giảm 30% - 50% NKBV. Tóm lại, bàn tay là phƣơng tiện quan trọng làm lan truyền NKBV. VST giúp loại bỏ hầu hết VSV có ở bàn tay, do đó, có tác dụng ngăn ngừa lan truyền tác nhân nhiễm khuẩn từ NB này sang NB khác, từ NB sang dụng cụ và NVYT, từ vị trí này sang vị trí khác trên cùng một NB và từ NVYT sang NB. VST là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa NKBV, đồng thời cũng là biện pháp bảo đảm an toàn cho NVYT trong thực hành chăm sóc và điều trị NB[5].

2 Bệnh viện đa khoa huyện Nam Sách tỉnh Hải Dƣơng là bệnh viện tuyến huyện loại III, hàng năm khám và điều trị cho hàng ngàn bệnh nhân. Có rất nhiều loại bệnh trên lâm sàng, cơ thể ngƣời bệnh suy yếu, sức đề kháng giảm, môi trƣờng bệnh viện là nguồn lây bệnh. Vì vậy rất cần sự chăm sóc chu đáo và tận tình của đội ngũ nhân viên y tế. Từ những thực tế nhƣ vậy, công tác vệ sinh tay là rất quan trọng để giảm thiểu việc lây truyền bệnh từ ngƣời bệnh này sang ngƣời bệnh khác.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, để góp phần vào công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá nhận thức, thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Nam Sách - tỉnh Hải Dƣơng năm 2018” với 2 mục tiêu sau: 1. Đánh giá nhận thức vệ sinh tay của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Nam Sách năm 2018. Đánh giá về Thực hành vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Nam Sách năm 2018. Từ đó có thể tham mƣu, đề xuất đƣợc với Ban Lãnh đạo bệnh viện những giải pháp hay biện pháp góp phần làm tăng sự nhận thức và thực hành của nhân viên y tế tại bệnh viện.

NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN 1. Khái niệm và một số nghiên cứu về nhiễm khuẩn bệnh viện - Khái niệm: Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) (nosocomial infection) là “những NK ngƣời bệnh mắc phải trong thời gian điều trị tại BV mà thời điểm nhập viện không thấy có yếu tố NK hay ủ bệnh nào.NKBV thƣờng xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi ngƣời bệnh nhập viện”[32]. Để chẩn đoán NKBV, ngƣời ta thƣờng dựa vào định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán cho từng vị trí NKBV. Ví dụ: NK vết mổ sau phẫu thuật, NK máu có liên quan đến dụng cụ đặt trong lòng mạch, NK đƣờng tiết niệu.

Hiện nay, theo hƣớng dẫn từ Trung tâm Giám sát và Phòng bệnh Hoa Kỳ (CDC) và các hội nghị quốc tế đã mở rộng định nghĩa ca bệnh cho các vị trí NK khác nhau và đang đƣợc áp dụng để giám sát NKBV trên toàn cầu. Dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng và sinh học, các nhà khoa học đã xác định có khoảng 50 loại NKBV khác nhau có thể xảy ra tại bệnh viện. - Một số nghiên cứu về nhiễm khuẩn bệnh viện: Theo một nghiên cứu của Tổ chức y tế thế giới tại 14 quốc gia và vùng lãnh thổ, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện lên đến 8,7 %, trong đó nhiễm trùng vết mổ là 25,1 %, nhiễm trùng đƣờng tiết niệu là 22,0 % và nhiễm trùng đƣờng tiêu hóa dƣới là 20,5%. Các loại vi khuẩn hay gặp trong nhiễm khuẩn vết mổ là Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa and Escherichia coli [31].

Một nghiên cứu ở 20 bệnh viện tại Thái Lan về nhiễm khuẩn bệnh viện năm 2006, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện trong khoảng từ 4,9% đến 7,6%. Trong đó , nhiễm khuẩn đƣờng hô hấp dƣới là 36,1%, nhiễm khuẩn tiết niệu là 25,5%. 70,2 % vi khuẩn gây nhiễm trùng là vi khuẩn gram âm; 19,2 % là vi khuẩn gram dƣơng [30]. 4 Nghiên cứu tại Malaysia trên 658 bệnh nhân năm 2005 cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 17,8%.

Một tỷ lệ rất cao so với ngƣỡng trung bình của các nƣớc trên thế giới [28]. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu về nhiễm khuẩn bệnh viện đã đƣợc triển khai từ lâu, nghiên cứu của Phạm Đức Mục năm 2001 tại 11 bệnh viện cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn là 6,8%. Bệnh viện Bạch Mai nghiên cứu tại 36 bệnh viện trên toàn quốc cho thấy nhiễm khuẩn bệnh viện là 7,8%. Các NKBV thƣờng gặp là: hô hấp (41,9%), vết mổ (27,5%), tiết niệu (13,1%), tiêu hóa (10,3%), da và mô mềm (4,1%), NK huyết (1,0%), NK khác (2,0%)[8], [15].

Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện NKBV gây ra những hậu quả nặng nề cho ngƣời bệnh cũng nhƣ cho NVYT, cụ thể nhƣ: - Tăng chi phí và tăng ngày điều trị: Tại Việt Nam, thông tin tại Đại hội Hội kiểm soát nhiễm khuẩn năm 2008 cho biết, mỗi NKBV kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 9,4 đến 24,3 ngày và tăng chi phí điều trị trung bình từ 2 đến 32,3 triệu đồng[22]. Đây là số tiền lớn so với mức thu nhập bình quân của ngƣời dân tại thời điểm năm 2008 mới là 1.024USD/ngƣời, khoảng 16 triệu đồng [21]. Một số nghiên cứu về nhiễm khuẩn bệnh viện ở Việt Nam, chủ yếu đƣợc thực hiện ở bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Chợ Rẫy. Giám sát đƣợc tiến hành ở bệnh viện Bạch Mai về hiệu quả điều trị và chi phí cho nhiễm khuẩn bệnh viện do nhiễm khuẩn vết mổ.

Kết quả cho thấy nhiễm khuẩn vết mổ làm tăng chi phí điều trị và tăng thời gian nằm viện. Cụ thể là tăng thời gian nằm viện lên 8,2 ngày, chi phí điều trị khoảng 110 USD[16]. Theo thống kê của CDC năm 2009, ƣớc tính hàng năm Hoa Kỳ phải chi một số tiền cho việc điều trị NKBV là từ 28 đến 48 tỷ đô la mỹ [26], cao hơn tổng ngân sách của Việt Nam chi cho đầu tƣ phát triển kinh tế xã hội năm 5 2008 (494. Nhiều nghiên cứu tiến hành tại các bệnh viện ở Mỹ cho thấy, NKBV kéo dài thêm thời gian nằm viện trung bình từ 7,4 đến 9,4 ngày[33].

- Tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật: NKBV không những gây hậu quả nặng nề về mặt lâm sàng, kinh tế mà còn là nguyên nhân làm tăng sự kháng thuốc của VSV, làm xuất hiện những chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh là nguyên nhân dẫn đến tử vong trong các bệnh viện. Tại Mỹ, tháng 10/2010, CDC công bố số ngƣời chết do MRSA (tụ cầu kháng kháng sinh Methicillin) đã vƣợt quá số ngƣời chết do AIDS. Trong số các bệnh viện đƣợc khảo sát, MRSA đƣợc tìm thấy ở 176 ngƣời bệnh, chiếm 45%, trong đó 7,7% bị lây khi dang nằm viện. Ở Anh, mỗi năm có khoảng 5000 ngƣời bệnh chết vì MRSA.

Tại Đức, Italia và Bồ Đào Nha, tỷ lệ tử vong do NKBV lên tới hơn 50% các trƣờng hợp tử vong. Tại Châu Á, các chủng loại vi khuẩn đa kháng kháng sinh đƣợc xác định là nguyên nhân gây ra từ 70 đến 80% trƣờng hợp lây nhiễm trong bệnh viện. Theo giáo sƣ Xiao Yonghong của viện Dƣợc lý lâm sàng của Trƣờng Đại học Bắc Kinh, tỷ lệ lây nhiễm MRSA trong các bệnh viện Trung Quốc đã tăng từ 30% lên 70% [14].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ