Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Thực trạng phát triển của thị trường vé xe trực tuyến tại Tp.Hồ Chí Minh hiện nay 2.1 Định nghĩa vé trực tuyến Vé trực tuyến (e-ticket) là loại vé được lưu dưới dạng dữ liệu điện tử thể hiện các thông tin liên quan đến việc sử dụng dịch vụ và dần thay thế loại vé giấy truyền thống. Ngoài việc được sử dụng phổ biến trong ngành hàng không, vé trực tuyến còn được sử dụng trong các lĩnh vực giải trí như vé xem phim hay vé tàu hỏa, du lịch, khách sạn,…Các loại hình dịch vụ này có đặc điểm là số lượng chỗ có giới hạn và có phân biệt thứ tự, vị trí. Thao tác đặt vé trực tuyến được thực hiện xem như việc đặt chỗ được xác nhận và được ghi nhớ trong hệ thống máy tính của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ.
Vé xe trực tuyến là một loại vé trực tuyến thay thế cho các vé xe giấy thông thường, vé xe trực tuyến được thể hiện dưới hình thức là một tin nhắn SMS hoặc email do các trang bán vé trực tuyến gửi cho khách hàng bao gồm thông tin chuyến đi, thời gian, mã vé. Khách hàng có thể sử dụng tin nhắn SMS hoặc email này để lên xe hoặc đổi sang vé giấy tại các phòng vé của nhà xe sử dụng dịch vụ.2 Sơ lược về đặc điểm của các trang bán vé xe trực tuyến Các trang bán vé xe trực tuyến được các doanh nghiệp thành lập nhằm cung cấp một hệ thống bán vé xe trực tuyến bán vé của nhiều hãng xe khác nhau trên nhiều tuyến đường khác nhau. Khách hàng truy cập vào các các trang bán vé xe trực tuyến để lựa chọn vé xe cần mua và tiến hành đặt vé, bước đặt vé bao gồm việc kê khai thông tin, chọn vé, thanh toán, sau khi đặt vé hoàn tất khách hàng sẽ nhận được vé xe trực tuyến thông qua tin nhắn SMS hoặc email và sử dụng vé xe trực tuyến này để xuất trình với nhà xe. Thực tế các doanh nghiệp kinh doanh các trang bán vé xe trực tuyến hiện nay không sở hữu các hãng xe mà chỉ cung cấp một hệ thống bán vé trực tuyến.
Các doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nghiệp này tiến hành liên kết với các hãng xe để đưa vé xe của các hãng lên bán trực tuyến trên hệ thống của mình và nhận được phần trăm hoa hồng từ các vé bán được. Trong thời gian qua, hình thức kinh doanh bán vé xe trực tuyến đang dần phát triển. Trên thực tế các hãng xe lớn có đã tiến hành bán vé xe trực tuyến trên các trang chủ của mình như hãng xe Phương Trang với website futabus.vn, tuy nhiên nó chỉ giới hạn bán vé xe của hãng xe chủ quản trong khi đó các trang bán vé xe trực tuyến bán vé của nhiều hãng và nhiều tuyến đường khác nhau, điều này sẽ đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường.3 Thực trạng kinh doanh của các trang bán vé xe trực tuyến hiện nay Hiện nay có các doanh nghiệp tham gia vào thị trường bán vé xe trực tuyến như Vexere, Hdlnk, Click1bus, Pasoto,…Trong giai đoạn này các doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào việc hoàn thiện hệ thống đặt vé xe và giới thiệu sản phẩm đến khách hàng.2 Lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng 2.1 Khái niệm về ý định hành vi và ý định mua lại của người tiêu dùng Ý định hành vi là đo lường ý định để thực hiện một hành vi đặc biệt (Fishbein & Ajzen, 1975). Sự đo lường ý định hành vi bao gồm ý định, dự báo, kế hoạch sử dụng công nghệ ( Suha A & Anne M, 2008).
Ý định hành vi có thể được sử dụng mô tả việc sử dụng thực tế vì có nghiên cứu thực nghiệm cho rằng có sự tương quan đáng kể với hành vi thực sự ( Davis, 1989; Straub và cộng sự, 1995; Szajna, 1996). Cũng có ý kiến cho rằng ý định được cho là chứa đựng những yếu tố thúc đẩy, ảnh hưởng đến hành vi, nó chỉ ra mức độ mà một người sẵn sàng thử, mức độ nỗ lực thực hiện để hoàn thành hành vi. Khi con người có ý định mạnh mẽ để tham gia vào một hành vi nào đó thì họ có khả năng thực hiện hành vi đó nhiều hơn ( Ajzen 1991, trang 181). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Ý định mua lại là đại diện cho khả năng dự báo của khách hàng gắn với các hành vi mua hàng một lần nữa (Seiders và cộng sự, 2005).
Blackwell và các cộng sự (2001) cũng minh họa một loại đặc biệt của ý định mua hàng là ý định mua lại, trong đó cân nhắc xem chứng ta dự kiến mua cùng một sản phẩm hoặc thương hiệu một lần nữa. Ngoài ra cũng có khái niệm về ý định mua hàng trực tuyến được phát biểu như sau: Ý định mua lại hàng trực tuyến được xác định là một người tiêu dùng sẵn sàng mua lại các dịch vụ trong một trang web cụ thể (Hong-Youl Ha và cộng sự, 2008).2 Mô hình tham khảo 2.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) Thuyết hành động hợp lý TRA được phát triển bởi Icek Ajzen và Martin Fishbein (1975,1980). Đây là tiền đề cho thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được phát triển bởi Ajzen vào năm 1991. Trong mô hình TRA, Ajzen và Fishbein cho rằng ý định hành vi được quyết định bởi thái độ và chuẩn chủ quan.
Lý thuyết này được sinh ra trong sự thất vọng lớn của các nghiên cứu về thái độ - hành vi truyền thống, nhiều trong số đó chỉ ra một tương quan yếu giữa đo lường thái độ và sự thể hiện của các hành vi có chủ đích (Hale, Householder và Greene, 2002, trang 259). Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) (Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1980) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Thuyết hành vi kế hoạch (TPB) Trong mối quan hệ giữa ý định hành vi và hành vi thực sự, Ajzen (1991) cho rằng ý định hành vi không phải bao giờ cũng dẫn đến hành vi thực tế. Để giải quyết vấn đề này Ajzen tiến hành chỉnh sửa mô hình TRA bằng cách thêm khái niệm kiểm soát hành vi cảm nhận (Perceived Behavioral Control) vào TRA. TPB sau đó được chấp nhận rộng rãi và chỉnh sửa với nhiều khái niệm hơn nữa trong khoa học xã hội giúp các nhà khoa học dự đoán hành vi của con người.
Ngoài ra thuyết TPB có thể bao gồm các hành vi không ý chí của người tiêu dùng, cái mà lý thuyết TRA không thể giải thích được. Mô hình thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) (Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1980) 2.3 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM/TAM2) Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model-TAM) được phát triển bởi Fred Davis và Richard Bagozzi (Fred Davis, 1989; Bagozzi & Warshaw, 1992). Mô hình này là một mở rộng của thuyết hành động hợp lý được sử dụng trong nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ, TAM đã thay thế hai biến thái độ và chuẩn chủ quan bằng hai biến khác đó là sự hữu dụng (ease of use) và sự dễ sử dụng ( usefulness) để đo lường cho phù hợp với nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ mới. Mô hình TAM cho rằng các hành động thực tế được xác định bởi các ý định hành vi và sau đó các ý định hành vi được xác định bởi thái độ hoặc trong các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 trường hợp khác ý định hành vi bị ảnh hưởng gián tiếp bởi các biến bên ngoài thông qua tính dễ sử dụng mong đợi và sự hữu ích mong đợi.
Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Nguồn: Fred Davis,1989) Mô hình TAM sau này được mở rộng thành mô hình TAM2 để chỉ ra sự thiếu sót tồn tại ở mô hình TAM. Có thể thấy TAM2 đã mở rộng thêm nhiều biến trong đó có một biến quan trọng là chuẩn chủ quan.4 Thuyết nhận thức xã hội (SCT) Thuyết nhận thức xã hội cũng chia sẻ quan điểm rằng hành vi thực tế là kết quả của việc suy nghĩ có lý trí, nhưng phần lớn những quyết định của các cá nhân này dựa trên sự kì vọng của họ vào sự chấp nhận của các hành vi mới. Theo Venkatesh và cộng sự (2003), đây là một trong những thuyết mạnh nhất về hành vi của con người. Compeau & Higgins (1995) đã chỉnh sửa và đề nghị rằng ý định sẽ được xác định bằng kết quả hiệu suất mong đợi, kết quả cá nhân mong đợi, sự tự tin, sự xúc động và sự lo lắng.
Thuyết nhận thức xã hội được xây dựng trên năm nhân tố tác động đó là: kết quả hiệu suất mong đợi, kết quả cá nhân mong đợi, sự tự tin, sự xúc động và sự lo lắng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.5 Thuyết hợp nhất về việc sử dụng và chấp nhận công nghệ (UTAUT) Lý thuyết UTAUT nhằm mục đích giải thích ý định sử dụng một hệ thống công nghệ thông tin và hành vi sử dụng sau này. Lý thuyết này bao gồm bốn nhân tố (hiệu quả mong đợi, tính dễ sử dụng mong đợi, ảnh hưởng của xã hội và điều kiện hỗ trợ) tác động trực tiếp đến ý định và hành vi sử dụng (V.Venkatesh và cộng sự, 2003). Bên cạnh đó giới tính, độ tuổi, kinh nghiệm và sự tự nguyện sử dụng được xác định là trung gian sự tác động của bốn nhân tố chính lên ý định và hành vi sử dụng (V.Venkatesh và cộng sự, 2003).
Lý thuyết được phát triển thông qua việc tích hợp những biến dự đoán tốt nhất về ý định hành vi của tám mô hình trong các nghiên cứu trước có liên quan đến hành vi sử dụng công nghệ thông tin (thuyết hành động hợp lý, mô hình chấp nhận công nghệ, mô hình động cơ thúc đẩy, thuyết hành vi kế hoạch, mô hình kết hợp TAM và TPB, mô hình của việc sử dụng máy tính cá nhân, thuyết phổ biến sự đổi mới, thuyết nhận thức xã hội), kết quả là UTAUT đã giải thích được 70% sự biến thiên trong ý định sử dụng (V.Venkatesh và cộng sự, 2003) Hình 2. Mô hình thuyết hợp nhất về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (Nguồn V. Venkatesh và cộng sự, 2003) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 UTAUT được trình bày như là mô hình tích hợp duy nhất để nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ trong lĩnh vực công nghệ và hệ thống thông tin.