Luận văn thạc sĩ ueh nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài của nhân viên tập đoàn viettel

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài của nhân viên tập, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

119
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Bố cục đề tài nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng kết lý thuyết

2.2. Các mô hình lý thuyết có liên quan

2.2.1. Mô hình TRA (Thuyết hành động hợp lý – Theory of Reasoned Action)

2.2.2. Mô hình TPB (Thuyết hành vi dự định – Theory of Planned Behaviour)

2.3. Các nghiên cứu trước đây về ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài

2.4. Tóm tắt lý thuyết và nhận xét

2.5. Đề xuất mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết

2.5.1. Các biến nhân khẩu học

2.5.2. Chuẩn chủ quan

2.5.3. Sự kiểm soát hành vi có nhận thức

2.5.4. Đặc điểm nước sở tại

2.5.5. Chính sách hỗ trợ của công ty

2.6. Tóm tắt chương 1

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ

3.3. Giai đoạn nghiên cứu chính thức

3.3.1. Thang đo biến phụ thuộc

3.3.2. Thang đo các biến độc lập

3.3.3. Nghiên cứu sơ bộ

3.3.3.1. Nghiên cứu định tính
3.3.3.2. Nghiên cứu sơ bộ định lượng

3.3.4. Mô hình nghiên cứu sau khi đánh giá thang đo

3.3.5. Nghiên cứu chính thức

3.3.5.1. Thiết kế mẫu
3.3.5.2. Thu thập dữ liệu
3.3.5.3. Phân tích dữ liệu

3.4. Tóm tắt chương 2

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Mô tả mẫu khảo sát

4.2. Đánh giá độ tin cậy thang đo

4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.4. Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

4.4.1. Phân tích tương quan

4.4.2. Phân tích hồi quy

4.4.3. Kiểm định các giả thuyết

4.5. Thảo luận kết quả

4.5.1. Các biến nhân khẩu học

4.5.2. Động cơ bên trong

4.5.3. Động cơ bên ngoài

4.5.4. Chuẩn chủ quan

4.5.5. Sự kiểm soát hành vi có nhận thức

4.5.6. Đặc điểm nước sở tại

4.5.7. Công ty hỗ trợ vật chất và công ty hỗ trợ tinh thần

4.6. Tóm tắt chương 3

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT HÀM Ý

5.1. Tóm tắt các kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu

5.2. Đề xuất một số hàm ý

5.2.1. Động cơ bên trong

5.2.2. Động cơ bên ngoài

5.2.3. Sự kiểm soát hành vi có nhận thức

5.2.4. Chuẩn chủ quan

5.2.5. Đặc điểm nước sở tại

5.2.6. Các biến nhân khẩu học

5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1. NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

PHỤ LỤC 2. BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SƠ BỘ

PHỤ LỤC 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định làm việc dài hạn ở nước ngoài

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định làm việc dài hạn ở nước ngoài của nhân viên Viettel. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc cử nhân viên đi làm việc ở nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, tỷ lệ thất bại trong việc cử nhân viên đi làm việc ở nước ngoài cũng rất cao, từ 15% đến 70%. Do đó, việc tìm hiểu các yếu tố tác động đến ý định làm việc là rất cần thiết.

1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu về nhân viên Viettel

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu lý do tại sao nhân viên Viettel lại có ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài. Các yếu tố như động lực cá nhân, chính sách công ty và môi trường làm việc sẽ được xem xét.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định làm việc dài hạn ở nước ngoài. Câu hỏi nghiên cứu sẽ tập trung vào việc tìm hiểu các yếu tố nào có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến ý định này.

II. Vấn đề và thách thức trong việc cử nhân viên đi làm việc ở nước ngoài

Việc cử nhân viên đi làm việc ở nước ngoài gặp nhiều thách thức, bao gồm sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và điều kiện sống. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến ý định làm việc của nhân viên. Đặc biệt, nhân viên Viettel thường phải đối mặt với những khó khăn trong việc thích nghi với môi trường mới.

2.1. Những khó khăn về văn hóa và ngôn ngữ

Nhân viên Viettel có thể gặp khó khăn trong việc giao tiếp và hòa nhập với văn hóa địa phương. Điều này có thể làm giảm ý định làm việc của họ ở nước ngoài.

2.2. Tác động của chính sách công ty đến ý định làm việc

Chính sách hỗ trợ từ công ty có thể ảnh hưởng lớn đến quyết định của nhân viên. Nếu công ty có chính sách hỗ trợ tốt, nhân viên sẽ có xu hướng cao hơn trong việc chấp nhận làm việc ở nước ngoài.

III. Phương pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định làm việc

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng để thu thập dữ liệu. Các cuộc khảo sát sẽ được thực hiện với nhân viên Viettel để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định làm việc dài hạn ở nước ngoài.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sẽ được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Dữ liệu sẽ được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp.

3.2. Phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS để kiểm định các giả thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định làm việc.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định làm việc dài hạn ở nước ngoài của nhân viên Viettel. Những phát hiện này có thể được áp dụng để cải thiện chính sách nhân sự của công ty.

4.1. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định làm việc

Nghiên cứu sẽ chỉ ra các yếu tố như động lực cá nhân, sự hỗ trợ từ công ty và điều kiện sống ở nước ngoài có ảnh hưởng lớn đến ý định làm việc.

4.2. Đề xuất chính sách cho phòng nhân sự

Dựa trên kết quả nghiên cứu, phòng nhân sự của Viettel có thể đề xuất các chính sách nhằm nâng cao tỷ lệ thành công trong việc cử nhân viên đi làm việc dài hạn ở nước ngoài.

V. Kết luận và hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định làm việc dài hạn ở nước ngoài mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực quản trị nguồn nhân lực quốc tế. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các chính sách đã được đề xuất.

5.1. Tóm tắt các kết quả chính

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như động lực cá nhân và chính sách công ty có ảnh hưởng lớn đến ý định làm việc của nhân viên.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng ra các công ty khác trong ngành viễn thông để so sánh và rút ra những bài học kinh nghiệm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài của nhân viên tập đoàn viettel

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, chương này tác giả sẽ đi sâu tổng kết các lý thuyết và các nghiên cứu trước đây. Từ đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với thực tiễn nghiên cứu và phát triển các giả thuyết.1 Tổng kết lý thuyết Làm việc dài hạn ở nước ngoài: Công việc ngắn hạn là công việc có thời gian nhỏ hơn 1 năm, công việc dài hạn có thời gian từ 1 đến 4 năm (Konopaske và cộng sự, 2009; Lavonen, 2011). Người đi làm việc dài hạn ở nước ngoài hay còn gọi là biệt phái viên là những người không phải là công dân của quốc gia họ đang làm việc, là những người làm việc cho một công ty nhưng ở nước ngoài trong một hợp đồng có thời hạn, thường là hơn 1 năm (Frith, 1981; Daniels và Radebaugh, 1994) trích trong (Causin và Ayoun, 2011). Ý định đi làm việc ở nước ngoài: ý định đi làm việc ở nước ngoài là ý định của một nhân viên sẽ chấp nhận hoặc từ chối một công việc trong một công ty nhưng đòi hỏi di chuyển đến một quốc gia khác (Brett và cộng sự, 1993; Kennedy và Judge, 2001).1 Các mô hình lý thuyết có liên quan 2.1 Mô hình TRA (Thuyết hành động hợp lý – Theory of Reasoned Action) Thái độ đối với hành vi Ý định hành vi Hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2.1: Thuyết hành động hợp lý Nguồn: (Fishbein và Ajzen, 1975) trích trong (Armitage và Conner, 2001).

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Theo thuyết hành động hợp lý, ý định hành vi (Behavioral Intention) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi thực sự. Ý định hành vi chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ đối với hành động hoặc hành vi (Attitude towards act or behavior) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm).2 Mô hình TPB (Thuyết hành vi dự định – Theory of Planned Behaviour) Thái độ đối với hành vi Chuẩn chủ quan Ý định hành vi Hành vi Sự kiểm soát hành vi có nhận thức Hình 2.2: Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991). Mô hình TPB là mô hình mở rộng của mô hình TRA. Mô hình TRA bị giới hạn khi dự báo sự thực hiện các hành vi mà con người không kiểm soát được (Ajzen, 1991).

Trong trường hợp này, các yếu tố về thái độ đối với hành vi và các chuẩn mực chủ quan của người đó không đủ để giải thích cho hành động của họ. Mô hình TPB khắc phục nhược điểm của TRA bằng cách xét thêm yếu tố sự kiểm soát hành vi có nhận thức (Ajzen,1991).  Thái độ đối với hành vi: là mức độ mà một người đánh giá một hành vi là tích cực hay tiêu cực và niềm tin của họ về mong đợi hành động xảy ra (Ajzen, 1991). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10  Chuẩn chủ quan: đề cập đến nhận thức của một người về những áp lực xã hội khiến người đó thực hiện hay không thực hiện các hành vi (Ajzen, 1991).

 Sự kiểm soát hành vi có nhận thức: đề cập đến nhận thức về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện các hành vi, sự nhận thức của một cá nhân được thừa nhận là bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm và những khó khăn đoán trước (Ajzen, 1991). Áp dụng thuyết hành vi dự định (mô hình TPB) vào nghiên cứu của tác giả: Hành vi là hành vi đi làm việc dài hạn ở nước ngoài của nhân viên Viettel. Ý định hành vi là ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài của nhân viên Viettel. Thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan, sự kiểm soát hành vi có nhận thức được thay thế bằng thái độ, chuẩn chủ quan, sự kiểm soát có nhận thức đối với ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài.2 Các nghiên cứu trước đây về ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài Tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu về ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài tại Việt Nam.

Một phần nguyên nhân là do các công ty Việt Nam chỉ mới đầu tư ra nước ngoài trong những năm gần đây nên vấn đề này chưa được chú ý. Ngược lại, có nhiều nghiên cứu về ý định đi làm việc dài hạn ở nước ngoài của các tác giả nước ngoài, trong đó nghiên cứu của Brett và Reilly (1988) được xem là một trong những nghiên cứu sớm nhất và được đề cập nhiều trong các nghiên cứu sau này. Các nghiên cứu sau này phát triển dựa trên mô hình và những đề nghị của Brett và Reilly (1988). Brett và Reilly (1988) thu thập dữ liệu từ năm 1978 đến 1979.

Brett và cộng sự (1993) thực hiện nghiên cứu lặp lại của nghiên cứu Brett và Reilly (1988) với dữ liệu năm 1992 và mẫu đa dạng hơn (Brett và cộng sự, 1993). Vì vậy, tác giả tổng kết nghiên cứu của Brett và cộng sự (1993) thay vì Brett và Reilly (1988).1 Nghiên cứu của Brett và cộng sự (1993): “Những năm đầu thập niên 1990: Ai sẵn sàng di chuyển?” Nghiên cứu này áp dụng thuyết hành vi hợp lý (TRA) để giải thích ý định đi làm việc ở nước ngoài và quyết định cuối cùng đi làm việc dài hạn ở nước ngoài. Mô hình của Brett và cộng sự (1993) bao gồm các yếu tố: các biến nhân khẩu học và nghề nghiệp, thái LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 độ của một cá nhân đối với công việc và di chuyển, thái độ của người hôn phối đối với di chuyển. Kết quả nghiên cứu cho thấy: những người sẵn sàng đi làm việc ở nước ngoài là những người trẻ hơn, thu nhập thấp hơn, tham vọng nghề nghiệp cao hơn và người hôn phối sẵn sàng di chuyển.

Brett và cộng sự (1993) đã đo lường ảnh hưởng của ý định lên quyết định bằng cách hỏi lại những người này vào 2 năm sau đó. Các biến nhân khẩu học Các biến nghề nghiệp Thái độ đối với công việc Ý định đi làm việc Quyết định đi làm ở nước ngoài việc ở nước ngoài Thái độ đối với di chuyển Thái độ của người hôn phối đối với di chuyển Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu của Brett và cộng sự (1993) Nhận xét: Hạn chế của Brett và cộng sự (1993) là yếu tố chuẩn chủ quan tác giả mới chỉ xét người hôn phối, chưa đề cập đến ảnh hưởng của con cái, gia đình, bạn bè, người cố vấn. Thứ hai, nghiên cứu này chưa đề cập đến tính cách cá nhân, đặc điểm địa lý và chính sách đi nước ngoài của công ty. Nghiên cứu được thiết kế cho mẫu là những cấp quản lý ở các công ty Fortune 500 ở Mỹ, nhấn mạnh đến ảnh hưởng của người hôn phối.

Trong khi các nhân viên Viettel đa số còn độc thân và đa số những người được cử đi nước ngoài đa số là ở cấp nhân viên. Hơn nữa, cần thời gian để kiểm định mối liên hệ giữa ý định và quyết định. Vì vậy mô hình này không phù hợp với nghiên cứu của tác giả.2 Nghiên cứu của Eby và Russell (2000): “Những dự báo về ý định của nhân viên đi làm việc ở nước ngoài cho công ty” Nghiên cứu này áp dụng thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991). Nghiên cứu đã xem xét các yếu tố nhân khẩu học, thái độ của nhân viên và thái độ của người hôn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Eby và Russell (2000) đã khảo sát 872 nhân viên của 74 tổ chức và người hôn phối. Kết quả nghiên cứu cho thấy niềm tin cá nhân về di chuyển, cam kết của tổ chức, khát khao phát triển nghề nghiệp ảnh hưởng có ý nghĩa lên ý định đi làm việc ở nước ngoài. Các yếu tố nền tảng: - Người tạo thu nhập chính trong gia đình (+) - Con cái ở quê hương (-) - Độ tuổi (-) Thái độ, nhận thức: - Niềm tin vào di chuyển (+) - Niềm tin chủ quan (+) Sẵn sàng đi làm - Nhận thức lợi ích cho họ (+) việc ở nước - Những khó khăn trong di chuyển (-) ngoài - Thỏa mãn về chính sách biệt phái của công ty (+) - Thỏa mãn với công việc (-) - Cam kết của tổ chức (+) - Mong muốn cho sự phát triển nghề nghiệp (+) Thái độ của người hôn phối: - Sẵn sàng di chuyển (+) - Khó khăn trong di chuyển (-) - Thỏa mãn về chính sách biệt phái của công ty (+) - Thỏa mãn với công việc (-) - Cam kết của tổ chức (-) Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Eby và Russell (2000) Nhận xét: Hạn chế của nghiên cứu này là tác giả chưa xem xét yếu tố tính cách cá nhân. Biến chuẩn chủ quan mới chỉ đo lường áp lực của công ty, chưa xét đến ảnh hưởng của gia đình, bạn bè.

Ngoài ra, mô hình nghiên cứu này đề cập đến sự di chuyển của người hôn phối. Tại Viettel người hôn phối không được hỗ trợ đi theo biệt phái viên vì vậy mô hình này không thể áp dụng (Hồ Quang Phương, 2013; tạp chí người Viettel ,2012). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Nghiên cứu của Petty (2010): “Những yếu tố đứng trước ý định đi làm việc ở nước ngoài cho công ty: một nghiên cứu về các yếu tố đặc điểm cá nhân và thái độ”. Nghiên cứu về ảnh hưởng của thái độ và cá tính lên ý định đi làm việc ở nước ngoài.

Tác giả áp dụng mô hình TPB (thuyết hành vi dự định) của Ajzen (1991). Nghiên cứu được thực hiện trên 937 nhân viên tại Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: những người tận tâm, cở mở, tìm kiếm sự sôi nổi có ảnh hưởng dương lên ý định đi làm việc ở nước ngoài. Ngoài ra, thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan có tác động dương lên ý định đi làm việc ở nước ngoài.

Đặc điểm cá nhân: - Người tận tâm (+) - Người cởi mở (+) - Người luôn tìm kiếm sự sôi động(+) - Người dễ bị kích thích (-) Ý định đi làm việc ở nước ngoài Thuyết hành vi dự định: - Thái độ đối với di chuyển (+) - Chuẩn chủ quan (+) - Sự kiểm soát hành vi có nhận thức (+) Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Petty (2010) Nhận xét: Hạn chế của nghiên cứu: tác giả không đo lường được biến sự kiểm soát hành vi có nhận thức. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố mà tác giả chưa đưa vào xem xét như: đặc điểm địa lý, chính sách biệt phái của công ty. Vì vậy không thể sử dụng mô hình này vào nghiên cứu của tác giả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ