Luận văn tốt nghiệp: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động tại công ty Scavi Huế

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của bộ phận sản xuất, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Quản trị Kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

127
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng suất lao động

Năng suất lao động là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo quan niệm truyền thống, năng suất lao động được hiểu là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào. Việc nâng cao năng suất lao động không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đặc biệt, trong bối cảnh Công ty Scavi Huế, việc nâng cao năng suất lao động là một thách thức lớn, đòi hỏi sự quan tâm từ các nhà quản lý. Các yếu tố như điều kiện làm việc, quản lý lao động và môi trường làm việc đều có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động. Theo nghiên cứu, việc cải thiện các yếu tố này có thể dẫn đến sự gia tăng đáng kể trong năng suất lao động.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của năng suất lao động

Khái niệm năng suất lao động không chỉ đơn thuần là tỷ lệ giữa sản phẩm và thời gian lao động mà còn bao gồm các yếu tố như kỹ năng lao động, công nghệ và môi trường làm việc. Năng suất lao động cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều hơn với chi phí thấp hơn, từ đó gia tăng lợi nhuận. Đặc biệt, trong ngành dệt may, nơi mà Công ty Scavi Huế hoạt động, năng suất lao động có vai trò quyết định trong việc duy trì và phát triển thị trường. Việc đánh giá đúng mức độ năng suất lao động sẽ giúp doanh nghiệp có những chiến lược phù hợp để cải thiện hiệu quả sản xuất.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động

Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động tại Công ty Scavi Huế. Các yếu tố này có thể được phân loại thành hai nhóm chính: yếu tố bên trong và bên ngoài. Yếu tố bên trong bao gồm trình độ học vấn, kỹ năng của người lao động, và sự quản lý của cấp trên. Yếu tố bên ngoài bao gồm môi trường làm việc, điều kiện sản xuất và các chính sách của nhà nước. Việc phân tích các yếu tố này giúp xác định rõ ràng những điểm mạnh và điểm yếu trong quy trình sản xuất, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện. Đặc biệt, quản lý lao độnghiệu suất làm việc là hai yếu tố quan trọng cần được chú trọng để nâng cao năng suất lao động.

2.1. Yếu tố nội bộ

Yếu tố nội bộ bao gồm trình độ học vấn và kỹ năng của người lao động. Những công nhân có trình độ học vấn cao thường có khả năng tiếp thu công nghệ mới nhanh hơn, từ đó nâng cao năng suất lao động. Ngoài ra, sự quản lý và phân công lao động hợp lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa quy trình sản xuất. Theo khảo sát, những công nhân cảm thấy được hỗ trợ và có sự phân công công việc rõ ràng thường có năng suất lao động cao hơn. Việc cải thiện các yếu tố này sẽ giúp Công ty Scavi Huế nâng cao hiệu quả sản xuất.

III. Đề xuất giải pháp nâng cao năng suất lao động

Để nâng cao năng suất lao động tại Công ty Scavi Huế, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần cải thiện điều kiện làm việc, bao gồm cả môi trường vật chất và tinh thần. Thứ hai, việc đào tạo và nâng cao kỹ năng cho người lao động là rất cần thiết. Các chương trình đào tạo nên được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của công ty. Cuối cùng, cần có các chính sách khuyến khích và động viên người lao động, từ đó tạo ra động lực làm việc tích cực. Những giải pháp này không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực và hiệu quả.

3.1. Cải thiện điều kiện làm việc

Cải thiện điều kiện làm việc là một trong những giải pháp quan trọng nhất để nâng cao năng suất lao động. Điều này bao gồm việc đảm bảo an toàn lao động, cung cấp đầy đủ trang thiết bị và công cụ làm việc. Một môi trường làm việc thoải mái và an toàn sẽ giúp người lao động tập trung hơn vào công việc, từ đó nâng cao hiệu suất làm việc. Theo nghiên cứu, những công ty chú trọng đến điều kiện làm việc thường có năng suất lao động cao hơn so với những công ty không chú trọng đến yếu tố này.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về năng suất - Theo quan niệm truyền thống: Khái niệm năng suất được hiểu khá đơn giản là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào. Nếu đầu ra lớn hơn đạt được từ một lượng đầu vào giống nhau hoặc với đầu ra giống nhau từ một đầu vào nhỏ hơn thì có thể nói rằng năng suất cao hơn. Những năm gần đây khái niệm năng suất được hoàn thiện bổ sung thêm những nội dung mới cho thích ứng với tình hình kinh tế xã hội và những thay đổi của môi trường kinh doanh hiện nay.

[20] Theo Từ điển Oxford: “Năng suất là tính hiệu quả của hoạt động sản xuất được đo bằng việc so sánh giữa khối lượng sản xuất trong những thời gian hoặc nguồn lực được sử dụng để tạo ra nó” [13] Theo từ điển kinh tế học hiện đại của MIT (Mỹ): “Năng suất là đầu ra trên một đơn vị đầu vào được sử dụng. Tăng năng suất xuất phát từ tăng tính hiệu quả của các bộ phận vốn, lao động. Cần thiết phải đo năng suất bằng đầu ra thực tế, nhưng rất ít khi tách riêng biệt được năng suất của nguồn vốn và lao động” [13] Năm 1950, tổ chức hiệp tác kinh tế Châu Âu đưa ra định nghĩa chính thức như sau: “Năng suất là thương số thu được bằng cách chia đầu ra cho một trong những nhân tố sản xuất. Trong trường hợp này có thể nói về năng suất của vốn, năng suất đầu tư hoặc năng suất của nguyên vật liệu, tuỳ theo cách xem xét đầu ra trong mối quan hệ với vốn, đầu tư hay nguyên liệu” Như vậy, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về năng suất nhưng tất cả các quan niệm đó đều dựa trên một cách chung nhất đó là: “Năng suất là tỷ số giữa đầu ra và những đầu vào được sử dụng để tạo ra đầu ra đó.

Về mặt toán học năng suất được phản ánh bằng: P = tổng đầu ra / tổng đầu vào” [13] SVTH: Nguyễn Hưng Nhật Cường 7 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Diệu Thúy Đầu ra được phản ánh dưới nhiều tên gọi khác nhau như: “Tập hợp các kết quả”; “Thực hiện ở các mức độ cao nhất”; “Tổng đầu ra hữu hình”; “Toàn bộ đầu ra có thể được”. Cụ thể trong các doanh nghiệp đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất hay giá trị gia tăng, hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật. Ở cấp độ vĩ mô người ta thường sử dụng GDP như đầu ra chủ yếu để tính năng suất.

Đầu vào được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra. Đó là lao động, nguyên liệu, vốn, thiết bị, năng lượng, kỹ thuật, kỹ năng quản lý. Việc chọn đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo ra các mô hình đánh giá năng suất khác nhau. Đặc điểm của quan niệm truyền thống là tập trung nhấn mạnh đến yếu tố đầu vào như lao động, vốn (năng lượng, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ) trong đó yếu tố lao động là trung tâm.

- Theo cách tiếp cận mới về năng suất của cơ quan năng suất Châu Âu (EPA) đưa ra: “Năng suất là một trạng thái tư duy. Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con người có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa nó đòi hỏi những cố gắng không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong những điều kiện luôn thay đổi.

Đó là sự tin tưởng chắc chắn trong quá trình tiến triển của loài người”. Theo cách tiếp cận mới năng suất trở thành một khái niệm động, tổng hợp nhiều yếu tố, cần phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với bản chất và môi trường kinh tế xã hội mà trong đó các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tính chất tổng hợp còn thể hiện trong chất lượng, đặc điểm của đầu ra và hiệu quả của các yếu tố đầu vào được xem xét ở mọi cấp độ khác nhau như quốc tế, quốc gia doanh nghiệp và từng cá nhân. [13] Khái niệm năng suất phản ánh tính lợi nhuận, tính hiệu quả, giá trị chất lượng, sự đối mới chất lượng cuộc sống.

Đó là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội được lượng hoá bằng mức tăng giá trị gia tăng của tất cả các nguồn lực và yếu tố tham gia vào một quá trình hay một loạt các hoạt động kinh tế trong một thời gian nhất định. Năng suất là một trạng thái tổng hợp cách thức hoạt động của con người và các doanh nghiệp SVTH: Nguyễn Hưng Nhật Cường 8 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Diệu Thúy Năng suất được hình thành với sự đóng góp của tất cả các hoạt động trong các hoạt động trong các chuỗi giai đoạn có liên quan từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, cung ứng cho nhà tiêu dùng, bảo dưỡng. Năng suất phải tính đến tác động tổng hợp của hàng loạt các yếu tố và tập trung vào sự thực hiện của doanh nghiệp.

Điểm căn bản nhất của cách tiếp cận mới về năng suất là tăng số lượng đồng thời tăng chất lượng. Điều này có nghĩa là sử dụng cùng một khối lượng nguyên liệu, lao động, vốn, năng lượng… để sản xuất một khối lượng lớn hơn các đầu ra có cùng chất lượng hoặc chất lượng cao hơn. Với quan niệm như vậy, năng suất có thể hiểu là trả ít hơn và nhận nhiều hơn mà không tổn hại đến chất lượng. Ngày nay, năng suất và chất lượng đã trở thành đồng hướng, thống nhất.

Chất lượng của đội ngũ lao động, chất lượng của sản phẩm và dịch vụ, chất lượng của môi trường kinh tế xã hội và chất lượng của năng lực quản lý điều hành sản xuất kinh doanh. Khái niệm về năng suất lao động - Theo C.Mác thì NSLĐ là “sức sản xuất của lao động cụ thể có ích”. NSLĐ thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của con người trong một đơn vị thời gian nhất định. [9] - Theo quan niệm truyền thống: NSLĐ là tỷ số giữa đầu ra với đầu vào, là lượng lao động để tạo ra đầu ra đó.

NSLĐ được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hoặc bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. [20] - Theo quan điểm tiếp cận mới về NSLĐ do Ủy ban năng suất của Hội đồng năng suất Châu Âu đưa ra: NSLĐ là một trạng thái tư duy. Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con người có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay.

Hơn nữa đó đòi hỏi những cố gắng không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong điều kiện luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết và phương pháp mới. Đó là sự tin tưởng chắc chắn trong quá trình phát triển của con người. [20] - Ở quan điểm truyền thống: NSLĐ thuần túy thể hiện mối tương quan chặt chẽ giữa “đầu ra” và “đầu vào”. Nếu đầu ra lớn hơn đạt được từ một đầu vào thì có thể SVTH: Nguyễn Hưng Nhật Cường 9 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.

Hoàng Thị Diệu Thúy nói NSLĐ cao hơn. Quan niệm này đề cập về mặt tĩnh và chủ yếu nhấn mạnh về mặt số lượng. Những năm gần đây khái niệm năng suất được hoàn thiện bổ sung thêm những nội dung mới cho thích ứng với tình hình kinh tế xã hội và những thay đổi của môi trường kinh doanh hiện nay. Đối với quan điểm hiện đại thì NSLĐ được hiểu một cách rộng hơn, đó là tăng số lượng sản xuất đồng thời tăng chất lượng đầu ra.

Điều này có nghĩa là sử dụng một lượng lao động để sản xuất ra một khối lượng lớn các đầu ra có cùng chất lượng hoặc có chất lượng cao hơn. Vì vậy, năng suất cũng có thể hiểu là trả ít hơn nhưng nhận nhiều hơn mà không ảnh hưởng xấu đến chất lượng. NSLĐ không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn là chất lượng, đặc điểm của đầu ra và tính hiệu quả trong sản xuất. Thời đại ngày nay, năng suất và chất lượng trở thành đồng hướng thống nhất với nhau.

NSLĐ cao phải tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có những đặc điểm kỹ thuật và chức năng sử dụng thỏa mãn nhu cầu của công nhân sản xuất trực tiếp cũng như đòi hỏi của xã hội, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm và ít gây lãng phí trong quá trình sản xuất. [20] Qua những khái niệm trên, ta có thể khẳng định rằng NSLĐ là hiệu quả sản xuất của lao động có ích trong khoảng thời gian nhất định. Tăng NSLĐ không chỉ là chỉ tiêu phản ánh lượng sản phẩm nó sản xuất ra mà còn là thể hiện mối quan hệ giữa năng suất – chất lượng – cuộc sống – việc làm và sự phát triển bền vững. Vì vậy, để có thể đánh giá về năng suất lao động của một Công ty, ta có thể dựa vào mức độ hoàn thành công việc theo kế hoạch, chất lượng của sản phẩm được tạo ra, cũng như sự hăng hái của người lao động trong quá trình tham gia sản xuất.

Đặc điểm về tăng năng suất lao động Tăng năng suất lao động là “Sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn” - Năng suất lao động tăng lên biểu hiện ở chỗ phần lao động sống giảm bớt, phần lao động quá khứ tăng lên, nhưng tăng như thế nào đó để tổng hao phí lao động chứa đựng trong hàng hoá giảm ấy giảm đi; nói cách khác lao động sống giảm nhiều hơn lao động quá khứ tăng lên [9] SVTH: Nguyễn Hưng Nhật Cường 10 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Diệu Thúy - Theo C.Mác: Trong quá trình sản xuất sản phẩm, lao động sống và lao động quá khứ bị hao phí theo những lượng nhất định. Lao động sống là lao động mà con người bỏ ra ở hiện tại. Lao động quá khứ là lao động ở giai đoạn trước đã chuyển vào giá trị sản phẩm.

Hạ thấp chi phí lao động sống nêu rõ đặc điểm tăng năng suất lao động cá nhân. Hạ thấp chi phí lao động sống và lao động quá khứ nêu rõ đặc điểm tăng năng suất lao động xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn tốt nghiệp mang tiêu đề "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động tại công ty Scavi Huế" của tác giả Nguyễn Hưng Nhật Cường, dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Thị Diệu Thúy, được thực hiện tại Đại học Huế vào năm 2019. Bài viết tập trung vào việc phân tích các yếu tố tác động đến năng suất lao động trong môi trường làm việc tại công ty Scavi Huế, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên. Nội dung bài luận không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động mà còn cung cấp những kiến thức thực tiễn có thể áp dụng trong quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về năng suất lao động và quản trị nhân sự, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như "Năng suất lao động của giao dịch viên tại quầy giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam", nơi nghiên cứu về năng suất lao động trong lĩnh vực ngân hàng, hay "Tạo động lực cho người lao động tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương", bài viết này sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách tạo động lực cho nhân viên nhằm nâng cao năng suất. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ về tạo động lực cho người lao động tại VNPT Thanh Hóa" cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu thêm về các phương pháp quản lý nhân sự hiệu quả. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động trong nhiều lĩnh vực khác nhau.