Chương 1: Tổng quan và giới thiệu về cơ sở hình thành đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cấu trúc báo cáo nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và trình bày quy trình nghiên cứu, cách thu thập và phân tích dữ liệu, cách chọn mẫu, cỡ mẫu và thang đo. 4 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thể hiện các kết quả nghiên cứu tại địa bàn An Giang gồm: xác định các yếu tố tác động đến ý định của khách hàng đối với dịch vụ TTĐT, thảo luận và nêu kiến nghị.
Chương 5: Kết luận - tóm tắt quá trình nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 LÝ THUYẾT VỀ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ 2.1 Thanh toán điện tử Thanh toán điện tử (tiếng Anh: E-payment, Electronic Payment) được định nghĩa là bất kỳ hình thức chuyển tiền nào được thực hiện thông qua các thiết bị điện tử (Kalakota & Whinston, 1996).2 Các loại hình thanh toán điện tử 2. Thanh toán trực tuyến qua thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Thẻ trong Thông tư này không bao gồm các loại thẻ do các tổ chức cung ứng hàng hóa, dịch vụ phát hành chỉ để sử dụng trong việc thanh toán hàng hóa, dịch vụ của chính các tổ chức phát hành đó (Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam [NHNNVN], 2021).
Đây là hình thức thanh toán trực tuyến bằng thẻ ghi nợ hoặc thẻ tín dụng của khách hàng. Hình thức này phổ biến bởi sự tiện lợi của nó, có mặt ở hầu hết các giao dịch TTĐT. Khi thanh toán qua thẻ, khách hàng có thể sử dụng đa dạng các loại thẻ từ thẻ ghi nợ nội địa, thẻ tín dụng cho đến thẻ ghi nợ quốc tế (Mastercard, VISA, JCB). Thanh toán trực tuyến qua ví điện tử Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính.); cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài Khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài Khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử theo tỷ lệ 1:1.
Ví điện tử được xem là một trong các loại dịch vụ thanh toán trung gian, là một công cụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán (Chính phủ Việt Nam [CPVN], 2016) Một số ví điện tử phổ biến hiện nay như: Momo, Moca, Zalo Pay, Shopee Pay, Payoo, BankPlus, Viettel Pay,. Khách hàng có thể dễ dàng thực hiện các giao dịch thanh toán online nhanh chóng khi mua sắm, chi tiêu, trả hóa đơn. Thanh toán bằng thiết bị điện thoại thông minh 1. Qua Mobile Banking Ngân hàng di động là dịch vụ được cung cấp bởi ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác, cho phép khách hàng của mình thực hiện các giao dịch tài chính từ xa bằng thiết bị di động như điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng.
Không giống như ngân hàng internet liên quan, nó sử dụng phần mềm, thường được gọi là một ứng dụng, được cung cấp bởi các tổ chức tài chính cho mục đích này. Ngân hàng di động thường có sẵn trên cơ sở 24 giờ. Một số tổ chức tài chính có những hạn chế về tài khoản nào có thể được truy cập thông qua 6 ngân hàng di động, cũng như giới hạn về số tiền có thể được giao dịch. Ngân hàng di động phụ thuộc vào sự sẵn có của internet hoặc kết nối dữ liệu với thiết bị di động (wikipedia, 2024).
Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh thì khách hàng không lo mang quá nhiều tiền kém an toàn khi đi mua sắm, đặc biệt là các món hàng xa xỉ, thay vào đó là thanh toán qua điện thoại với dịch vụ Mobile Banking. Hệ thống thanh toán qua điện thoại được xây dựng trên mô hình liên kết giữa ngân hàng, các nhà cung cấp viễn thông, và người tiêu dùng. Qua QR Code Thanh toán thẻ qua Mã phản hồi nhanh (Quick Response Code - viết tắt là QR Code) là việc sử dụng QR Code để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ cho đơn vị chấp nhận thẻ; bao gồm hình thức QR Code từ phía đơn vị chấp nhận thẻ (Merchant-Presented QR Code) và hình thức QR Code từ phía chủ thẻ (Consumer-Presented QR Code) (NHNNVN, 2021). Để thực hiện thanh toán bằng mã QR, người tiêu dùng quét mã QR được người bán hiển thị bằng điện thoại thông minh của họ để thanh toán hàng hóa của họ.
Họ nhập số tiền họ phải trả và cuối cùng nộp. Đây là phương pháp không có thẻ an toàn hơn các phương pháp khác. Thanh toán trực tuyến qua dịch vụ cổng thanh toán điện tử Dịch vụ cổng TTĐT được giải thích tại khoản 3 Điều 3 Thông tư 39/2014/TT-NHNN thì dịch vụ cổng TTĐT là dịch vụ cung ứng hạ tầng kỹ thuật để thực hiện việc kết nối giữa các đơn vị chấp nhận thanh toán và ngân hàng nhằm hỗ trợ khách hàng thực hiện thanh toán trong giao dịch TMĐT, thanh toán hóa đơn điện tử và các dịch vụ TTĐT khác (NHNNVN, 2014). Các hệ thống thanh toán trực tuyến sẽ kết nối với các cổng TTĐT.
Để thanh toán trực tuyến, người bán phải có tài khoản trên một dịch vụ trung gian nào đó như Paypal, Onepay hay LibertyReserve và phải liên kết tài khoản của mình lên các dịch vụ trung gian này.5 Thanh toán trực tuyến qua Internet Banking Dịch vụ ngân hàng trên Internet (Internet Banking) là các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ trung gian thanh toán được các đơn vị cung cấp thông qua mạng Internet (NHNNVN, 2018). Ngân hàng điện tử là lựa chọn tối ưu cho quản lý tài chính và giao dịch hàng ngày nhờ tính tiện lợi, linh hoạt, phí giao dịch thấp, công cụ quản lý tài chính hữu ích, bảo mật cao và dịch vụ khách hàng 24/7.3 Lợi ích và rủi ro của thanh toán điện tử 2.1 Lợi ích của thanh toán điện tử 1. Đối với khách hàng: TTĐT là một phương thức thanh toán đơn giản, an toàn, tiết kiệm, thuận lợi cho sự trao đổi. Đối với ngân hàng: TTĐT là một công cụ thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng không phải dùng đến tiền mặt, giúp cho việc thanh toán thuận lợi 7 và việc lưu thông tiền tệ nhanh hơn đồng thời dễ kiểm soát.
TTĐT có vai trò quan trọng trong việc huy động tích tụ các nguồn vốn tạm thời chưa sử dụng đến của khách hàng vào cơ quan tín dụng, tạo nguồn cho tài khoản để thực hiện thanh toán. Đối với nhà nước: Giảm chi phí in ấn tiền, chi phí vận chuyển, kiểm đếm và bảo quản tiền. Hạn chế được lượng tiền mặt lưu thông, giúp giảm thiểu lạm phát, ổn định nền kinh tế quốc dân. Thu hút nhiều hơn các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội, tăng nguồn vốn đầu tư, mở rộng sản xuất.
Tăng cường hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, tội phạm kinh tế. Tham gia cải cách hành chính nhà nước, xây dựng chính phủ điện tử. Góp phần đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng. Đáp ứng được các nhu cầu ngày càng cao của xã hội trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
Đối với nền kinh tế: TTĐT đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số, mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Trước hết, phương thức thanh toán này giúp giảm đáng kể các chi phí giao dịch như chi phí in ấn, vận chuyển và xử lý tiền mặt, chi phí nhân công, chi phí lưu trữ và bảo quản. Không chỉ tiết kiệm chi phí, TTĐT còn nâng cao hiệu quả và tốc độ giao dịch, giúp rút ngắn thời gian vòng quay tiền tệ và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hơn nữa, TTĐT đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy TMĐT phát triển.
Phương thức này tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ trực tuyến, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế cho doanh nghiệp. Đồng thời, TTĐT cũng góp phần hỗ trợ tiếp cận dịch vụ tài chính toàn diện cho người dân, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, ngăn ngừa tệ nạn rửa tiền. Không chỉ mang lại những lợi ích kinh tế trực tiếp, TTĐT còn nâng cao tính minh bạch và khả năng quản lý trong các giao dịch kinh tế. Phương thức này giúp kiểm soát dòng tiền tốt hơn, phòng chống hiệu quả các hành vi gian lận, tham nhũng.
Sự phát triển của TTĐT cũng thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện cho việc ra đời các sản phẩm, dịch vụ tài chính mới và các mô hình kinh doanh mới dựa trên nền tảng công nghệ số. Cuối cùng, việc phát triển một hệ thống thanh toán hiện đại, tiện lợi như TTĐT sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và sức hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài của nền kinh tế. Các doanh nghiệp có thể hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn trong môi trường số hóa, tạo thêm nhiều giá trị và đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế đất nước.2 Rủi ro của thanh toán điện tử 1. Rủi ro lộ thông tin cá nhân: Khi thực hiện thanh toán trực tuyến, có nguy cơ thông tin cá nhân của khách hàng bị rò rỉ bên ngoài ngân hàng, bao gồm tên, tuổi, ngày tháng năm sinh, số điện thoại, địa chỉ, sở thích, thói quen, email, thông tin về công việc, tài khoản ngân hàng và mối quan hệ.
Rủi ro khi giao dịch qua website giả mạo: Khi sử dụng website giả mạo để thực hiện giao dịch, người dùng phải đối mặt với rủi ro. Thông thường, các trang web giả mạo được thiết kế để giống hệ thống đăng nhập của 8 ngân hàng, tuy nhiên thực chất đó là trang web giả. Những trang web này sử dụng tên, hình ảnh, thiết kế, logo, màu sắc, nội dung thông tin, sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng nhưng với tên miền khác, dễ khiến người dùng nhầm lẫn khi truy cập. Bên cạnh đó, trên các trang web giả mạo này thường đăng tải thông tin cảnh báo lừa đảo liên quan đến thanh toán trực tuyến, gây thêm sự tin tưởng cho người dùng.
Mất tiền oan do trục trặc hệ thống: Mất tiền oan do trục trặc hệ thống là trường hợp ngân hàng đã thông báo chuyển khoản thành công và số tiền trong tài khoản đã bị trừ.