Mở đầu Trong chương này tác giả sẽ giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giới hạn nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu. 4 Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết Trong chương này tác giả sẽ trình bày tổng quan các khái niệm về lao động, thị trường lao động, các lý thuyết về ý định, tổng quan các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong chương này tác giả sẽ trình bày về cách chọn mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập thông tin, định nghĩa các biến nghiên cứu, kỹ thuật xử lý và phân tích số liệ dữ liệu nghiên cứu. Giới thiệu sơ lược về quy trình nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày các kết quả nghiên cứu bao gồm các nội dung sau: thông tin mẫu nghiên cứu, đánh giá sơ bộ thang đo, đánh giá độ tin cậy Cronbach Alpha của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA, kiểm định mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy bội với phần mềm LVTS Quản trị kinh doanh SPSS, đề xuất các giải pháp nhằm góp phần giúp cơ quan nhà nước nâng cao khả năng thu hút nguồn nhân lực chất lượng tại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trong chương này, tác giả sẽ trình bày tóm tắt đánh giá những đóng góp và hạn chế của luận văn, nêu lên kiến nghị cho những nghiên cứu tiếp theo, kết luận chung về vấn đề nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT Mục tiêu chương này nhằm giới thiệu các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình ra ý định chọn nơi làm việc của sinh viên, các mô hình thái độ, một số định nghĩa tìm hiểu về xu hướng thực hiện hành vi. Vì thế, chương 2 bao gồm các phần chính sau đây: (1) Khái niệm tổng quan; (2) Các mô hình về thái độ; (3) Các công trình nghiên cứu khác, (4) Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn cơ quan nhà nước làm việc.1 Khái niệm tổng quan: 2.1 Thị trường việc làm Khái niệm việc làm: Theo điều 13, chương II Bộ luật lao động của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam “mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
Theo ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm người có LVTS Quản trị kinh doanh việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuân hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Môi trường làm việc: Theo Nguyễn Thúy Hà (2011) thuộc Trung tâm Nghiên cứu khoa học - Viện Nghiên cứu lập pháp, cho rằng trong hoạt động của nền công vụ Nhà nước ta hiện nay, môi trường làm việc là một trong những yếu tố không kém phần quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thế nhưng hiện nay vẫn chưa có khái niệm chính xác về môi trường làm việc mà chúng ta chỉ biết rằng: Môi trường làm việc bao gồm các yếu tố thuộc về: cơ sở vật chất, tinh thần, chế độ chính sách, mối quan hệ giữa lãnh đạo đối với nhân viên và giữa nhân viên với nhân viên… những yếu tố đó ảnh hưởng rất lớn đến người lao động. 6 Tiêu chuẩn đánh giá việc làm: Theo Nguyễn Thúy Hà (2011), thì việc làm được đánh giá theo các tiêu chuẩn sau đây: Tính chất địa lý của việc làm: Trong khu vực nông thôn, thành thị.
Tính chất kỹ thuật của việc làm: Dựa trên các đặc thù về kỹ thuật và công nghệ, ta có việc làm theo các nghành, nghề, khu vực kinh tế khác nhau. Tính chất thành thạo của việc làm: Các yêu cầu về năng lực và phẩm chất của người lao động như trình độ tay nghề, kinh nghiệm. Tính chất kinh tế của việc làm: Vị trí của việc làm trong hệ thống quan hệ lao động như quản lý, công nhân viên Điều kiện làm việc: Tính an toàn lao động và môi trường lao động và môi trường làm việc. Tính chất cơ động của việc làm: Khả năng thay đổi nghề nghiệp, khả năng làm nhiều hay ít nghề… LVTS Quản trị kinh doanh 2.2 Thị trường lao động 2.1 Khái niệm về Thị trường lao động: Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về thị trường lao động, mỗi một thị trường lao động lại có những đặc điểm riêng của mình.
Thị trường lao động khác biệt so với thị trường hàng hóa ở chỗ, nó thể hiện phần lớn những biểu hiện kinh tế xã hội của cả xã hội và có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của nó. Vì vậy, thị trường lao động của Mỹ, Nhật, Tây Âu, Nga, Trung Quốc và Việt Nam có rất nhiều khác nhau. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công”. Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làm được trả công.
7 Theo Từ điển Kinh tế học Pengiun, thị trường lao động là thị trường trong đó tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động được xác định trong bối cảnh quan hệ của cung lao động và cầu lao động. Định nghĩa này nhấn mạnh kết quả của quan hệ tương tác cung - cầu trên thị trường lao động là tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động. Thị trường lao động là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác.2 Những đặc trưng chủ yếu của thị trường lao động: Theo viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa, thị trường lao động có những đặc trưng như sau: Tính đa dạng của thị trường lao động LVTS Quản trị kinh doanh Trên thực tế, có rất nhiều dạng thị trường lao động khác nhau, tùy thuộc vào các tiêu chí được lựa chọn để phân loại. Xét từ giác độ pháp lý, có thể có thị trường hợp pháp và thị trường bất hợp pháp; dưới góc độ quản lý, có thể có thị trường tự do và thị trường có tổ chức; dưới góc độ hình thức tổ chức, có thể có thị trường tập trung và thị trường phi tập trung.
Tuy nhiên, có hai tiêu chí thường hay được sử dụng để phân loại thị trường. Đó là trình độ kỹ năng và phạm vi địa lý. Xét từ góc độ kỹ năng, thị trường lao động được phân ra thành thị trường lao động giản đơn và thị trường lao động được đào tạo. Xét từ giác độ địa lý, thị trường lao động được phân chia thành thị trường lao động địa phương và thị trường lao động quốc gia, hoặc thị trường lao động quốc tế.
Tính không đồng nhất của hàng hóa sức lao động trên thị trường Khác với nhiều loại hàng hóa thông thường là những thứ thường được chuẩn hóa ở mức cao, hàng hóa sức lao động hoàn toàn không giống nhau. Mỗi người lao động là tập hợp của các năng lực bẩm sinh, cộng với các kỹ năng chuyên biệt tiếp 8 thu được từ giáo dục và đào tạo. Mỗi người lao động đều có những đặc điểm riêng về khả năng, trình độ, tuổi tác, nguồn gốc, giới tính, nhu cầu, thể lực, động lực làm việc,. Chính vì thế, sức lao động do những người này đem ra trao đổi trên thị trường lao động cũng hoàn toàn không đồng nhất với nhau.
Vị thế của người lao động trong các đàm phán trên thị trường lao động Thực tiễn cho thấy, thông thường, trong các quan hệ giao dịch hay đàm phán trên thị trường lao động, cán cân thường nghiêng về phía người có nhu cầu sử dụng sức lao động. Xuất phát điểm của thực tiễn này là ở chỗ cho đến nay, số lượng những người tìm việc vẫn nhiều hơn số lượng các cơ hội việc làm sẵn có. Hơn nữa, người lao động đi tìm việc bao giờ cũng là người có nguồn lực hạn chế, trong khi đó, người sử dụng lao động có nhiều khả năng chờ đợi và lựa chọn hơn. Chính vì thế, trong quá trình đàm phán hoặc giao dịch, khi thỏa thuận các điều khoản hợp đồng, người sử dụng lao động thường có vị trí quyết định.3 Khái niệm ý định chọn nơi làm việc LVTS Quản trị kinh doanh Xét ở góc nhìn của thuyết kỳ vọng, Gregory (2010) đưa ra sự giải thích như sau: ý định và lựa chọn của người tìm việc được đưa ra dựa trên cơ sở làm thế nào để sử dụng tốt nhất những nỗ lực của bản thân để không chỉ đáp ứng những nhu cầu trước mắt mà còn cả những mong đợi của họ về những ảnh hưởng đến nhu cầu tương lai và hành vi của họ.
Nếu người tìm việc tin rằng một tổ chức sẽ làm tăng khả năng của họ đạt được kết quả có giá trị, họ sẽ sẵn sàng để theo đuổi việc làm với tổ chức đó. Vì vậy, người tìm việc hình thành một mối quan tâm cho các đặc tính của tổ chức mà họ tin rằng những nỗ lực của họ sẽ đạt được các kết quả có giá trị. Khá gần với khái niệm ý định chọn nơi làm việc, khái niệm về ý định theo đuổi công việc theo Rynes (1991) bao gồm những mong muốn của một người nộp đơn như tìm hiểu trang web của công ty hoặc tham gia phỏng vấn, hoặc sẵn sàng đáp ứng các thủ tục nộp đơn mà không có sự cam kết về sự lựa chọn công việc. 9 Còn theo Chapman et al.
(2005), ý định của một ứng viên chấp nhận lời mời làm việc nếu tổ chức đưa ra lời đề nghị về một vị trí côngviệc sẽ góp phần đo lường khái niệm ý định chấp nhận công việc.