CHƯƠNG 1 CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐA PHƯƠNG TIỆN TRONG THỰC TẾ 1. Vai trò của cơ sở dữ liệu đa phương tiện 1. Hỗ trợ thiết kế Nếu sách chỉ cho phép ta đọc, truyền hình chỉ cho phép ta nghe và xem thì Mỹ thuật đa phương tiện (MTĐPT) cho phép ta cảm nhận bằng nhiều giác quan cùng một lúc: nghe, nhìn, đọc, cảm giác và quan trọng nhất là khả năng tương tác lên nó. MTĐPT ứng dụng Công nghệ thông tin trong việc sáng tạo, thiết kế những sản phẩm mang tính đa phương tiện và tương tác ứng dụng trong các lĩnh vực truyền thông, quảng cáo, giáo dục và giải trí.
Thiết kế đồ họa, trò chơi điện tử, làm hoạt hình 3D, thiết kế Web, làm phim v.v… MTĐPT đang mở ra khả năng sáng tạo cực kỳ lớn cho những người đam mê cả nghệ thuật và công nghệ. Các lĩnh vực thiết kế trong lĩnh vực truyền thông đa phương tiện: Về thiết kế đồ họa: Chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số các nhà thiết kế tại Việt Nam hiện nay, chuyên viên thiết kế đồ họa là người lập kế hoạch, phân tích, và tìm kiếm các giải pháp thị giác nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của quá trình sản xuất. Hầu hết họ dùng phần mềm máy tính để ứng dụng công nghệ xử lý, biến thông tin dưới dạng bản in, điện tử, hay phim ảnh thành các thiết kế làm mê hoặc khách hàng. Các nhà thiết kế đồ họa làm việc trong các nhà xuất bản, tòa soạn báo, công ty thiết kế, công ty quảng cáo v.
Thiết kế đồ họa Thiết kế trò chơi: Các nhà thiết kế trò chơi (games) thiết kế các bối cảnh, mô hình, các tình huống, âm thanh, hình ảnh. cho trò chơi điện tử. Nắm được các đặc thù của thiết bị chơi (máy tính, máy chơi game, điện thoại thông minh,.) cũng như hoàn cảnh sử dụng của chúng kết hợp với những hiểu biết công nghệ giúp ích rất nhiều cho họ. Nếu bạn ham mê chơi game, có khả năng về thiết kế đồ họa, hiểu biết nhiều về lịch sử, thích đọc tiểu thuyết, và đặc biệt là hiểu rõ tâm lý người chơi, bạn có thể sẽ là một nhà thiết kế trò chơi đầy tiềm năng.
Thiết kế trò chơi Thiết kế truyền thông tương tác: Đây là một công việc khá mới mẻ, đòi hỏi nghệ sỹ thiết kế phải am hiểu về nhiều vấn đề khác nhau của MTĐPT. Nhiệm vụ chính là xây dựng kịch bản, lựa chọn âm thanh, hình ảnh, đồ họa, và tương tác để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh (một đĩa CD giới thiệu về lịch sử Việt Nam chẳng 5 hạn). Một sản phẩm truyền thông tương tác không chỉ cung cấp thông tin một chiều cho người sử dụng mà còn cho phép họ tham gia vào quá trình này một cách chủ động. Bạn nên bắt đầu với việc học cách xây dựng kịch bản, xử lý âm thanh, biên tập hình ảnh, và một chút về lập trình tương tác.
Thiết kế truyền thông tương tác Thiết kế Website: Nhiệm vụ chính của nghệ sĩ thiết kế website là xây dựng cấu trúc, định dạng các quy chuẩn về hình ảnh, chữ viết,. cho từng trang và cho toàn bộ website. Như vậy, để có thể thiết kế website, trước hết cần phải là một nhà thiết kế đồ họa, sau đó cần có các hiểu biết khá kỹ về các công nghệ liên quan đến web như HTML (ngôn ngữ siêu văn bản trên Web), CSS (các tập tin định kiểu theo tầng). Nghệ sĩ thiết kế cần đưa ra thiết kế khả thi và thuận tiện cho việc lập trình.
Một số đặc thù của Web như vấn đề tốc độ truyền, màu sắc. cũng cần được nghệ sĩ thiết kế quan tâm. Biểu diễn thông tin Thông thường người dùng thường ghi nhận thông tin ở dạng văn bản, các văn bản này được mã hóa và lưu trữ trên máy tính, khi đó chúng ta có dữ liệu dạng văn bản. Một câu hỏi đặt ra nếu thông tin chúng ta thu nhận được ở một dạng khác như âm thanh, hình ảnh thì dữ liệu đó ở dạng nào? Chính điều này dẫn đến một khái 6 niệm mới ta gọi đó là dữ liệu đa phương tiện.
Dữ liệu đa phương tiện biểu diễn ở các dạng thông tin khác nhau như: (i) âm thanh, (ii) hình ảnh, (iii) văn bản hoặc kết hợp các dạng. Khi nghiên cứu các dữ liệu ở dạng thông tin trên, ta nhận thấy rằng cần phải phân chia dữ liệu đa phương tiện nhỏ hơn nữa. Bởi vì dữ liệu ở các dạng âm thanh, hình ảnh trong quá trình vận động theo thời gian có những tính chất rất khác so với dạng tĩnh. Điều này đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ xử lý rất khác nhau.
Vì vậy trong lĩnh vực công nghệ đa phương tiện, có thể chia ra ra ở các dạng: 1. Âm thanh động, có làn điệu (Audio) 4. Ảnh động kết hợp âm thanh động (video) 7. Hình ảnh theo nguyên tắc chiếu phim (Animation) 8.
Kết hợp giữa các dạng trên 1. Lĩnh vực giải trí, nghệ thuật Truyền thông đa phương tiện là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc sáng tạo, thiết kế những sản phẩm mang tính đa phương tiện và tương tác ứng dụng trong các lĩnh vực truyền thông, quảng cáo, giải trí và nghệ thuật. Hiểu một cách đơn giản đó là việc thiết kế đồ họa, trò chơi điện tử, làm hoạt hình 3D, thiết kế web, biên tập âm thanh, hình ảnh, dựng phim truyền hình, video clip,. tất cả đều thực hiện trên máy tính.
Hầu hết các sản phẩm truyền thông (quảng cáo, truyền hình, Internet, video) và giải trí hiện đại (trò chơi, điện ảnh, hoạt hình,.) chúng ta sử dụng ngày nay đều là sản phẩm của ngành truyền thông đa phương tiện. 7 Có thể nói, truyền thông đa phương tiện là sự giao thoa của công nghệ thông tin và truyền thông, trong đó máy tính là công cụ chủ yếu cho việc sáng tạo, xây dựng các sản phẩm truyền thông, giải trí và ứng dụng đồ họa cho tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Thiết kế đồ họa, trò chơi điện tử, làm hoạt hình 3D, thiết kế Web, làm phim v.v… đã và đang mở ra khả năng sáng tạo cực kỳ lớn cho những người đam mê cả nghệ thuật và công nghệ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong sáng tạo, thiết kế những sản phẩm mang tính đa phương tiện và tương tác, ứng dụng trong các lĩnh vực truyền thông, quảng cáo, giáo dục và giải trí.
Giáo dục và đào tạo Đổi mới giáo dục nói chung, phương pháp dạy học nói riêng là quy luật phát triển của thời đại và của bất cứ quốc gia nào trong quá trình phát triển xã hội, của giáo dục và của chính bản thân người làm công tác giáo dục, của giáo viên và học sinh trong điều kiện mới. Đổi mới phương pháp dạy học là sự kế thừa, có chọn lọc và sáng tạo dựa trên những giá trị tích cực của phương pháp dạy học truyền thống. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải kiên quyết loại bỏ các phương pháp dạy học lạc hậu, truyền thụ một chiều, biến học sinh thành người thụ động trong học tập, mất dần khả năng sáng tạo vốn có của người học thông qua việc ứng dụng những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật có khả năng ứng dụng trong quá trình dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Việc khắc phục những trở ngại về tâm lý, những thói quen ở người học và người dạy đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học.
Trong 6 thành tố của quá trình dạy học gồm: (i) Mục tiêu, (ii)Nội dung, (iii) Phương pháp, (iv) Giáo viên, (v) Học sinh và (vi) Phương tiện dạy học thì phương pháp dạy học giữ vai trò, ý nghĩa quan trọng không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Sử dụng phòng học đa phương tiện sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy 8 học thông qua những điểm sau : Sử dụng đa phương tiện trong dạy học mang lại cho chúng ta nguồn thông tin phong phú và sinh động, bài giảng trở nên trực quan hơn, bài giảng sống động hơn, thu hút sự tập trung, niềm say mê hứng thú của người học, làm cho người học dễ hiểu và nhớ lâu, giúp giảm bớt thời gian tìm hiểu vấn đề và làm cho việc trau dồi kiến thức được bền hơn, nhanh hơn và dễ dàng hơn. Đa phương tiện phản ánh đúng đắn thực tế khách quan và qua đó cung cấp cho người học những kiến thức chính xác và cụ thể những vấn đề đang nghiên cứu. đa phương tiện đặc biệt phù hợp với việc mô phỏng ở những nơi mà chương trình có độ phức tạp, trừu tượng và năng động cao.
Mô phỏng cho phép người học trực quan hóa quá trình và xây dựng những mô hình trí tuệ. Đa phương tiện góp phần tăng cường hoạt động nhận thức, cảm giác, tri giác các sự vật, hiện tượng, giúp cho việc lĩnh hội kiến thức mới thuận lợi hơn, vững chắc hơn. Đa phương tiện giúp người thày có thể truyền đạt bằng nhiều con đường khác nhau những lượng thông tin cần thiết cho việc tiếp thu bài học của học sinh. Việc tiếp thu kiến thức có hiệu quả cao khi học sinh nhận được lượng tin từ nhiều nguồn tri giác khác nhau và trong hoạt động riêng của mình, tổng hợp và chọn lọc những nguồn tin đó.
Đa phương tiện góp phần chống hình thức dạy và học chay trong điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị phòng thí nghiệm, phòng thực hành còn thiếu thốn và lạc hậu như hiện nay. Nó còn có mục đích làm cho việc học “mang tính xã hội tích cực hơn, liên ngành hơn và nhiều kiến thức được liên kết lại với nhau hơn trong một thế giới”. Những loại dữ liệu đa phương tiện 1. Dữ liệu văn bản Văn bản bao gồm các ký tự số, chữ.
Cách thể hiện chung nhất của kí tự là theo mã ASCII, người ta dùng 7 bít cho mỗi mã, nhưng sử dụng chung là 8 bit, thêm bit chẵn lẻ. Bộ nhớ dành cho văn bản được tính theo số kí tự, số trang. Trong hệ thống truy tìm thông tin, thuộc tính ứng với văn bản độ dài thay đổi không phù hợp với Hệ quản trị cơ sở dữ liệu, nên khó xác định hiệu suất xử lí. Dữ liệu âm thanh Âm thanh là các dao động cơ học (biến đổi vị trí qua lại) của các phần tử, nguyên tử hay các hạt làm nên vật chất và lan truyền trong vật chất như các sóng.
Âm thanh, giống như nhiều sóng, được đặc trưng bởi tần số, bước sóng, chu kỳ, biên độ và vận tốc lan truyền. Theo định nghĩa về âm thanh, người ta nghe được chúng bởi tác động của áp suất không khí lên trống của tai con người.