Tổng quan nghiên cứu

Quá trình chế tạo thuốc gợi nổ công nghiệp và quân sự phát sinh lượng nước thải đặc thù rất lớn, trung bình từ 200 đến 300 kg nước thải trên mỗi kilôgam sản phẩm Diazo dinitrophenol (DDNP) được tạo thành. Hợp chất DDNP (công thức phân tử C6H2N4O5) là dẫn xuất nitro phenol vòng thơm có độ bền hóa học cao, rất khó phân hủy sinh học và tiềm ẩn độc tính nghiêm trọng đối với hệ sinh thái thủy vực cũng như sức khỏe con người khi phơi nhiễm ở liều lượng chỉ từ 1 đến 4 mg/kg thể trọng mỗi ngày. Nước thải thực tế tại hố thu của dây chuyền sản xuất thuốc nổ thường xuyên ghi nhận chỉ số COD vượt ngưỡng từ 10 đến 14 lần và độ màu vượt trên 70 lần so với quy chuẩn môi trường hiện hành.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác định toàn diện thành phần ô nhiễm đặc thù trong nước thải dây chuyền sản xuất DDNP, đồng thời nghiên cứu tối ưu hóa các thông số vận hành của quá trình oxy hóa nâng cao quang Fenton (UV-Fenton) để xử lý triệt để các hợp chất nitro phenol độc hại. Đề tài được triển khai thực nghiệm trong giai đoạn từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018 tại Phòng thí nghiệm Công nghệ Môi trường thuộc Viện Công nghệ mới - Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự, kết hợp lấy mẫu kiểm chứng trực tiếp tại Nhà máy Z121 thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng tại tỉnh Phú Thọ.

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp giải pháp công nghệ oxy hóa tiên tiến đạt hiệu suất chuyển hóa DDNP trên 98,69% và giảm thiểu COD vượt mức 80%, đưa các chỉ tiêu ô nhiễm về ngưỡng an toàn theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp QCVN 40:2011/BTNMT cột B.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết các quá trình oxy hóa nâng cao (Advanced Oxidation Processes - AOPs), trọng tâm là phản ứng Fenton quang hóa (Photo-Fenton). Cơ chế phản ứng dựa trên sự sản sinh liên tục gốc tự do hydroxyl (•OH) mang thế oxy hóa cực cao đạt 2,80 V, vượt trội hơn hẳn so với ozon ở mức 2,07 V và clo ở mức 1,36 V. Gốc •OH tấn công trực tiếp vào vòng benzen của phân tử DDNP thông qua phản ứng cộng ái điện tử và phản ứng tách hydro, phá vỡ cấu trúc mạch vòng bền vững để chuyển hóa thành các hợp chất trung gian mạch thẳng trước khi khoáng hóa hoàn toàn thành CO2, H2O và các ion vô cơ.

Bên cạnh phản ứng Fenton cổ điển giữa ion Fe2+ và H2O2 với hằng số tốc độ phản ứng k đạt khoảng 63 l/(mol.s), hệ quang Fenton tận dụng bức xạ tia tử ngoại (UV) có bước sóng thích hợp để khử ion phức [Fe(OH)]2+ trở lại dạng Fe2+, sinh thêm gốc •OH theo chu trình quang hóa khép kín: Fe3+ + H2O + hν → Fe2+ + H+ + •OH. Nhờ cơ chế tái sinh xúc tác liên tục này, tốc độ phân hủy chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy tăng gấp 3 đến 4 lần so với hệ Fenton thông thường mà không làm tích tụ lượng bùn thải chứa sắt quá mức.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm bao gồm 6 mẫu nước thải thực tế (ký hiệu từ NT1 đến NT6) thu thập vào tháng 8 năm 2017 và tháng 10 năm 2017 tại hố thu gom cuối của dây chuyền sản xuất DDNP thuộc Nhà máy Z121, cùng hệ thống các mẫu nước thải mô phỏng pha chuẩn trong phòng thí nghiệm với nồng độ DDNP khảo sát từ 50 mg/l đến 550 mg/l. Phương pháp lấy mẫu tổ hợp theo mẻ ngẫu nhiên có phân tầng tại các chu kỳ sản xuất khác nhau được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất cho mức độ dao động tải lượng ô nhiễm.

Hệ thống phân tích hiện đại được áp dụng đồng bộ: nồng độ DDNP được định lượng chính xác bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC Agilent 1100 sử dụng đầu dò DAD ở bước sóng 200 nm, cột tách Hypersil C18 (kích thước 200 x 4 mm) và pha động Methanol:H2O tỷ lệ 70:30; hàm lượng kim loại nặng được xác định trên thiết bị ICP-MS Agilent 7900 theo phương pháp US EPA 200.8; các chỉ tiêu COD, độ màu, tổng nitơ và sunfua được đo kiểm quang phổ tử ngoại khả kiến UV-Vis Agilent 8453 và máy đo COD DR/890 HACH theo các tiêu chuẩn TCVN 6491:1999 và TCVN 6492:1999.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hiện trạng nguồn thải tại Nhà máy Z121 cho thấy nước thải dây chuyền sản xuất thuốc gợi nổ mang tính kiềm mạnh với pH dao động từ 10,13 đến 12,80, nồng độ DDNP tự do rất cao ở mức 417,9 đến 698,4 mg/l, COD biến thiên từ 1.600 đến 2.100 mg/l, tổng phenol đạt 143,9 đến 315,9 mg/l và độ màu cực kỳ đậm đặc từ 5.500 đến 10.700 Pt/Co.

Khi thực hiện phản ứng quang Fenton trên hệ thiết bị thể tích 5 lít có chiếu xạ UV công suất 15 W, yếu tố pH môi trường thể hiện vai trò quyết định: ở điều kiện tối ưu pH bằng 3, nồng độ DDNP giảm mạnh từ 370,40 mg/l xuống còn 4,87 mg/l sau 90 phút phản ứng, tương ứng hiệu suất xử lý đạt 98,69% và đạt chuyển hóa hoàn toàn 100% tại mốc 105 phút với tốc độ xử lý trung bình đạt 21,28 mg/(l.phút) trong 5 phút đầu tiên. Ngược lại, tại môi trường trung tính pH bằng 7 và môi trường kiềm pH bằng 9, hiệu suất phân hủy sau 90 phút chỉ đạt lần lượt 23,12% và 19,40%, tức giảm hơn 4 lần so với môi trường axit.

Đồng thời, khi kết hợp tỷ lệ mol H2O2/Fe2+ thích hợp cùng bước sóng UV 254 nm, chỉ số COD của nước thải giảm từ 1.850 mg/l xuống dưới 150 mg/l (hiệu suất tách bỏ trên 85%), độ màu giảm hơn 95% sau 90 phút xử lý mẻ, đưa toàn bộ nước thải sau xử lý về ngưỡng an toàn.

Thảo luận kết quả

Cơ chế phân hủy DDNP diễn ra mạnh mẽ nhất tại giá trị pH bằng 3 là do ở khoảng pH này, các ion sắt tồn tại chủ yếu ở dạng phức chất đơn nhân [Fe(OH)]2+, vốn là dạng hấp thu bức xạ photon UV mạnh nhất trong vùng bước sóng 250 đến 400 nm để giải phóng ồ ạt các gốc •OH tự do. Khi nâng pH lên 7 hoặc 9, các ion Fe2+ và Fe3+ nhanh chóng bị thủy phân tạo thành kết tủa hydroxide không tan Fe(OH)3, làm mất đi vai trò xúc tác đồng thể, đồng thời H2O2 bị phân hủy tự phát thành oxy và nước mà không sinh ra gốc tự do có hoạt tính oxy hóa.

Dữ liệu diễn biến nồng độ DDNP và COD theo thời gian phản ứng có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường động học phân hủy bậc một và bảng so sánh đa thông số tại các mốc thời gian 15, 30, 60 và 90 phút. So với phương pháp keo tụ bằng PAC vốn chỉ loại bỏ được khoảng 50,96% COD và 80% độ màu, hay giải pháp vi điện phân Fe-C đơn thuần chỉ khử nhóm nitro thành nhóm amin mà không phá vỡ hoàn toàn mạch vòng, công nghệ UV-Fenton thể hiện tính ưu việt vượt trội về khả năng khoáng hóa sâu, loại bỏ triệt để các độc chất hữu cơ mạch vòng khó phân hủy trong môi trường nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công nghệ và ứng dụng hiệu quả giải pháp quang Fenton vào thực tế xử lý nước thải công nghiệp quốc phòng, các đề xuất cụ thể được xây dựng như sau:

Thiết lập hệ thống phản ứng quang Fenton liên tục kết hợp module đèn UV 254 nm hiệu suất cao tại phân xưởng xử lý nước thải Nhà máy Z121, hướng tới mục tiêu duy trì hiệu suất phân hủy DDNP đạt trên 99,5% và COD đầu ra dưới 100 mg/l, thực hiện hoàn thành lắp đặt trong vòng 6 đến 9 tháng bởi Phòng Công nghệ Môi trường phối hợp cùng Ban Giám đốc nhà máy.

Áp dụng quy trình chuẩn hóa định lượng tự động hóa tác nhân hóa chất gồm H2O2 và FeSO4 theo tỷ lệ mol kiểm soát chặt chẽ nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành, giảm lượng hóa chất tiêu hao khoảng 15% đến 20%, tiến hành thử nghiệm nghiệm thu trong quý 4 năm 2018 do đội ngũ kỹ sư vận hành nhà máy phụ trách.

Triển khai bể tiền xử lý điều hòa và trung hòa axit hóa để hạ pH từ dải 10,0 - 12,8 xuống mức pH 3,0 cố định trước khi đưa vào tháp oxy hóa quang hóa, bảo đảm lưu lượng dòng chảy ổn định 50 m3/ngày đêm, lộ trình thực hiện kéo dài 3 tháng do Phân xưởng Xây dựng A13 đảm nhiệm.

Tổ chức quan trắc định kỳ 1 tháng một lần đối với các chỉ tiêu độc hại như tổng phenol, sunfua và các kim loại nặng bằng hệ thống HPLC và ICP-MS, bảo đảm 100% các mẻ nước xả thải đạt tiêu chuẩn xả thải loại B theo QCVN 40:2011/BTNMT, thực hiện thường xuyên từ đầu năm 2019 bởi Viện Công nghệ mới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và tài liệu khoa học hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:

Kỹ sư vận hành và cán bộ quản lý môi trường tại các nhà máy sản xuất vũ khí, vật liệu nổ, hóa chất quốc phòng như Nhà máy Z121, Z113, Z131: Áp dụng trực tiếp thông số công nghệ tối ưu pH bằng 3 và thời gian lưu 90 phút để thiết kế, cải tạo trạm xử lý nước thải nhiễm hợp chất nitro thơm đạt chuẩn xả thải.

Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Hóa học: Sử dụng số liệu động học, phổ UV-Vis, sắc ký đồ HPLC và quy trình phân tích AOPs làm tài liệu tham khảo cho các đề tài phát triển vật liệu xúc tác quang hóa nâng cao.

Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xử lý nước thải công nghiệp khó phân hủy như nước thải dệt nhuộm, dược phẩm, hóa chất bảo vệ thực vật: Kế thừa mô hình phản ứng UV-Fenton dạng mẻ dung tích từ 5 lít trở lên để nâng quy mô thử nghiệm pilot xử lý các dòng thải có COD trên 2.000 mg/l.

Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và an toàn hóa chất thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Quốc phòng: Tham khảo nguồn dẫn chứng thực tế để ban hành các quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn kỹ thuật kiểm soát ô nhiễm đối với các chất gợi nổ thế hệ mới không chứa chì và thủy ngân.

Câu hỏi thường gặp

Chất Diazo dinitrophenol (DDNP) trong nước thải có mức độ nguy hại như thế nào đối với môi trường và sức khỏe? DDNP là chất nổ nhạy thế hệ mới có độc tính cao đối với tế bào sinh vật. Phơi nhiễm kéo dài qua đường hô hấp hoặc nguồn nước với liều lượng từ 2 mg/kg/ngày có thể gây teo vàng gan cấp tính, suy giảm nghiêm trọng lượng bạch cầu và tổn thương hệ thần kinh ngoại biên, đồng thời làm phát sinh độ màu nước thải lên đến 10.700 Pt/Co gây cản trở quang hợp thủy sinh.

Tại sao quá trình quang Fenton (UV-Fenton) lại đạt hiệu quả vượt trội hơn hẳn phản ứng Fenton truyền thống? Hệ quang Fenton bổ sung bức xạ tia tử ngoại UV bước sóng 254 nm giúp quang phân trực tiếp phức chất sắt, tái sinh nhanh chóng Fe3+ thành Fe2+ theo chu trình liên tục. Điều này tạo thêm lượng lớn gốc tự do •OH có thế oxy hóa 2,80 V, gia tăng tốc độ khoáng hóa chất hữu cơ lên gấp 3 đến 4 lần và hạn chế triệt để hiện tượng lắng đọng bùn sắt Fe(OH)3.

Vì sao giá trị pH bằng 3 được xác định là điều kiện tối ưu tuyệt đối cho hệ phản ứng phân hủy DDNP? Tại pH bằng 3, ion sắt tồn tại chủ yếu ở dạng phức [Fe(OH)]2+ có khả năng hấp thụ quang thông UV cực đại để sinh gốc •OH, giúp hiệu suất phân hủy DDNP đạt tới 98,69% sau 90 phút. Nếu pH tăng lên mức 7 hoặc 9, sắt bị kết tủa hoàn toàn thành hydroxide, làm hiệu suất xử lý sụt giảm nghiêm trọng xuống dưới 24%.

Nước thải sau quá trình xử lý bằng giải pháp UV-Fenton có đáp ứng được các quy chuẩn môi trường hiện hành không? Nước thải sau 90 phút phản ứng trong điều kiện tối ưu ghi nhận nồng độ DDNP giảm về mức không phát hiện, COD giảm từ trên 1.800 mg/l xuống dưới 150 mg/l, độ màu giảm trên 95%, các chỉ tiêu kim loại nặng và sunfua đều đạt ngưỡng cho phép theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 40:2011/BTNMT cột B trước khi xả ra nguồn tiếp nhận.

Chi phí đầu tư và vận hành công nghệ UV-Fenton tại quy mô công nghiệp có tính khả thi không? Công nghệ tận dụng các hóa chất thông dụng giá thành thấp như FeSO4 và H2O2 kết hợp hệ thống đèn UV 15 W tiêu thụ ít điện năng. Việc kiểm soát tối ưu liều lượng giúp giảm thiểu 20% hóa chất tiêu hao và giảm chi phí xử lý bùn thải, mang lại hiệu quả kinh tế - kỹ thuật vượt trội cho các cơ sở công nghiệp quốc phòng.

Kết luận

Những đóng góp khoa học và thực tiễn nổi bật của công trình nghiên cứu bao gồm:

  • Xác định toàn diện đặc tính ô nhiễm nguồn thải dây chuyền sản xuất DDNP tại Nhà máy Z121 với độ kiềm cao pH 10,13 - 12,80, nồng độ DDNP 417,9 - 698,4 mg/l, COD đạt 1.600 - 2.100 mg/l và độ màu đạt 5.500 - 10.700 Pt/Co.
  • Xây dựng thành công phương pháp định lượng sắc ký HPLC chuẩn xác xác định hàm lượng DDNP ở bước sóng 200 nm, phục vụ giám sát tối ưu quá trình phản ứng.
  • Chứng minh cơ chế và điều kiện tối ưu của hệ quang Fenton tại pH bằng 3, bước sóng UV 254 nm, đạt hiệu suất xử lý DDNP 98,69% và khoáng hóa COD trên 85% sau 90 phút.
  • Đề xuất hoàn chỉnh sơ đồ dây chuyền công nghệ thiết bị xử lý nước thải áp dụng thử nghiệm thành công tại Nhà máy Z121 đạt quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT cột B.
  • Định hình kế hoạch phát triển ứng dụng mở rộng quy mô module công nghiệp liên tục công suất 50 m3/ngày đêm trong giai đoạn 2019 - 2020.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và quý doanh nghiệp quan tâm đến giải pháp công nghệ oxy hóa nâng cao hãy liên hệ ngay với tác giả và nhóm nghiên cứu tại Viện Công nghệ mới để nhận chuyển giao quy trình kỹ thuật và tư vấn thiết kế hệ thống xử lý chuyên sâu.