Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng công nghiệp hóa tại Việt Nam thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành công nghiệp luyện kim và gang thép, song cũng gia tăng áp lực ô nhiễm môi trường do nguồn nước thải luyện than cốc phát sinh lượng lớn hợp chất hữu cơ độc hại. Hằng năm, thế giới sản xuất hơn 3,5 triệu tấn phenol, và hợp chất này được liệt kê vào danh mục 129 chất ô nhiễm cần ưu tiên kiểm soát nghiêm ngặt theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ. Tại Việt Nam, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 52:2017/BTNMT quy định giới hạn phenol trong nước thải sản xuất thép ở mức 0,5 mg/L, trong khi giới hạn đối với nguồn nước mặt nghiêm ngặt dưới 0,001 mg/L. Nước thải dập cốc tại Nhà máy Cốc hóa thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên ghi nhận nồng độ phenol rất cao từ 889 đến 943 mg/L, nhu cầu oxy hóa học COD dao động 625 đến 5038 mg/L và amoni đạt 936 đến 2556 mg/L. Mức độ độc hại của phenol từng được ghi nhận trong sự cố môi trường biển năm 2016 khi các độc chất phenol, cyanua và hydroxit sắt làm chết hơn 100 tấn hải sản, ảnh hưởng trực tiếp đến 41.000 ngư dân. Các công nghệ truyền thống như keo tụ hay sinh học thường mất hoạt tính khi nồng độ phenol vượt ngưỡng 200 mg/L. Trước thách thức đó, luận văn thạc sĩ hóa học của tác giả Đào Mai Giang thực hiện năm 2020 tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên đã tập trung nghiên cứu chế tạo vật liệu bimetal Fe-Cu nhằm phân hủy phenol bằng phương pháp nội điện phân. Mục tiêu trọng tâm là tối ưu hóa các thông số vận hành và bước đầu xử lý mẫu nước thải thực tế tại Nhà máy Cốc hóa Thái Nguyên, mang lại giải pháp tiền xử lý đạt hiệu suất phân hủy trên 90,06%, góp phần bảo vệ bền vững hệ sinh thái nguồn nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết nội điện phân vi mô kết hợp cơ chế oxy hóa khử tiên tiến trên bề mặt cặp kim loại tiếp xúc. Khi hai kim loại có độ âm điện và thế điện cực khác nhau tiếp xúc trực tiếp trong dung dịch điện ly, hệ thống hình thành vô số cặp vi pin Galvanic với hiệu điện thế chênh lệch khoảng 1,2 V, phát sinh dòng điện vi mô liên tục. Trong hệ bimetal Fe-Cu, sắt đóng vai trò cực anot xảy ra phản ứng oxy hóa hòa tan giải phóng ion Fe2+ và electron, trong khi đồng đóng vai trò catot thu nhận electron để khử ion hydro tạo thành nguyên tử hydro hoạt tính. Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh bốn khái niệm cốt lõi: hợp chất phenol, vật liệu lưỡng kim bimetal Fe-Cu, cơ chế nội điện phân và chỉ số nhu cầu oxy hóa học COD. Các tác nhân khử và gốc tự do sinh ra tại chỗ trên bề mặt vi điện cực tấn công bẻ gãy cấu trúc vòng benzen bền vững của phenol, chuyển hóa chất độc hại thành các hợp chất trung gian mạch hở dễ phân hủy sinh học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập mẫu nước thải thực địa tại Nhà máy Cốc hóa thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên vào lúc 9 giờ ngày 6 tháng 12 năm 2019, tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn TCVN 5999:1995 về lấy mẫu và TCVN 6663-3:2016 về kỹ thuật bảo quản mẫu nước thải. Thực nghiệm tiến hành theo mẻ với cỡ mẫu 100 mL dung dịch cho mỗi phép đo, khảo sát lặp lại qua 6 đến 9 mức biến thiên đối với từng yếu tố: giá trị pH từ 2 đến 8, thời gian phản ứng từ 2 đến 24 giờ, khối lượng vật liệu từ 0,25 đến 1,5 gam, tốc độ lắc từ 100 đến 250 vòng/phút và nồng độ ban đầu từ 53,38 đến 307,65 mg/L. Cấu trúc và hình thái bề mặt vật liệu được kiểm chứng bằng kính hiển vi điện tử quét SEM Jeol JSM-6610LA, phổ tán xạ năng lượng tia X EDX và nhiễu xạ tia X XRD Brucker D5000 để xác định độ phân tán pha kim loại. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC trên thiết bị Waters Acquity Arc tích hợp đầu dò PDA ở bước sóng 272 nm được lựa chọn để định lượng phenol nhờ độ phân giải cao và triệt tiêu hoàn toàn sự can thiệp từ nền mẫu phức tạp. Đề tài được triển khai từ năm 2019 đến năm 2020 dưới sự hỗ trợ của đề tài nghiên cứu cấp Bộ mã số B2019-TNA-10.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình thực nghiệm đã làm sáng tỏ bốn phát hiện khoa học quan trọng. Thứ nhất, ảnh SEM và phổ EDX chứng minh đã chế tạo thành công vật liệu bimetal Fe-Cu dạng hạt phân bố đồng đều với kích thước dưới 50 µm; hàm lượng đồng đạt 69,30% và sắt chiếm 13,32% về khối lượng, thay thế hoàn toàn dạng khối kết tụ của nguyên liệu bột sắt ban đầu vốn chứa 91,05% sắt. Thứ hai, phương pháp HPLC định lượng phenol được tối ưu hóa với thời gian lưu 3,192 phút ở tốc độ dòng 1,0 mL/phút và tỷ lệ pha động axetonitril kết hợp đệm photphat pH 3 là 70:30; đường chuẩn tuyến tính đạt hệ số tương quan R2 bằng 0,9968 trong khoảng nồng độ 50 đến 200 mg/L. Thứ ba, giá trị pH đóng vai trò chi phối quyết định; ở pH 3 hiệu suất phân hủy phenol đạt mức cực đại 90,06% khi nồng độ giảm từ 101,68 mg/L xuống 10,11 mg/L, trong khi ở pH 8 hiệu suất giảm xuống chỉ còn 37,54%, chênh lệch tới 52,52%. Thứ tư, hiệu suất xử lý đạt trạng thái tối ưu ở liều lượng 1,0 gam vật liệu trên 100 mL dung dịch, tốc độ lắc 200 vòng/phút và thời gian phản ứng 12 giờ đối với cả mẫu pha chuẩn lẫn mẫu nước thải thực tế từ nhà máy luyện cốc.

Thảo luận kết quả

Cơ chế phân hủy đạt hiệu suất cao tại pH 3 được giải thích là do nồng độ ion H+ dồi dào thúc đẩy mạnh mẽ phản ứng catot sinh ra các nguyên tử hydro hoạt tính, đồng thời ngăn ngừa hiện tượng thụ động hóa bề mặt kim loại. Trái lại, khi nâng pH lên môi trường trung tính và kiềm từ 6 đến 8, các ion Fe2+ nhanh chóng chuyển hóa thành kết tủa hydroxit Fe(OH)2 và Fe(OH)3 bám kín bề mặt bimetal, phong tỏa các vị trí hoạt tính của vi pin Galvanic và làm suy giảm hiệu suất phân hủy hơn một nửa. So với công nghệ hấp phụ bằng than hoạt tính hạt GAC chỉ loại bỏ khoảng 70% phenol và nhanh bão hòa, hay phương pháp oxy hóa ướt WAO đòi hỏi điều kiện nhiệt độ cao 125 đến 320 độ C cùng áp suất 0,5 đến 20 MPa, công nghệ nội điện phân Fe-Cu vận hành hiệu quả ở nhiệt độ phòng 25 độ C mà không tiêu tốn năng lượng điện ngoài. Dữ liệu thực nghiệm trên biểu đồ động học cho thấy nồng độ phenol giảm theo hàm mũ rõ rệt trong 6 giờ đầu và đạt trạng thái cân bằng sau 12 giờ, đồng thời bảng phân tích chất lượng nước sau xử lý xác nhận tải lượng COD giảm sâu, chứng minh tính khả thi cao khi ứng dụng làm công đoạn tiền xử lý trước bể sinh học.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp hành động nhằm triển khai công nghệ vào thực tiễn:

Một là, thiết kế và lắp đặt hệ thống phản ứng nội điện phân Fe-Cu quy mô pilot tại trạm xử lý nước thải của Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên do Ban Quản lý Môi trường doanh nghiệp chủ trì, đặt mục tiêu loại bỏ trên 85% hàm lượng phenol đầu vào trong quý 1 năm tiếp theo.

Hai là, tích hợp trạm châm axit tự động hóa nhằm kiểm soát ổn định giá trị pH nước thải trong dải 3,0 đến 3,5 trước khi cấp vào bể phản ứng, do phòng Kỹ thuật vận hành thực hiện trong vòng 3 tháng, hướng tới mục tiêu duy trì hiệu suất phân hủy liên tục trên 90% và triệt tiêu nguy cơ đóng cặn bề mặt.

Ba là, triển khai quy trình hoàn nguyên và tái sinh vật liệu bimetal Fe-Cu định kỳ bằng dung dịch axit loãng 15 ngày một lần, do nhóm nghiên cứu phối hợp cùng kỹ sư phân xưởng thực hiện trong 6 tháng, đảm bảo vật liệu duy trì hiệu suất xử lý trên 80% sau 10 chu kỳ tái sử dụng.

Bốn là, chuẩn hóa hệ thống quan trắc nước thải tự động ứng dụng thiết bị phân tích sắc ký lỏng hoặc cảm biến quang học, do Hội đồng Khoa học doanh nghiệp giám sát, cam kết đưa chất lượng nước xả thải đạt chuẩn QCVN 52:2017/BTNMT cột B với hàm lượng phenol kiểm soát nghiêm ngặt dưới 0,5 mg/L trước cuối năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là công trình chuyên khảo hữu ích cho bốn nhóm đối tượng:

Nhóm kỹ sư công nghệ môi trường và cán bộ vận hành trạm xử lý nước thải tại các nhà máy luyện kim, nhà máy luyện than cốc và hóa chất; tài liệu cung cấp giải pháp tiền xử lý triệt để dòng thải chứa phenol nồng độ cao từ 500 đến 1000 mg/L nhằm bảo vệ hệ vi sinh vật hiếu khí khỏi ngộ độc.

Nhóm học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Hóa phân tích và Kỹ thuật môi trường; công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về tối ưu hóa phương pháp HPLC định lượng phenol ở bước sóng 272 nm và kỹ thuật tổng hợp vật liệu bimetal Fe-Cu.

Nhóm cán bộ quản lý và chuyên viên thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; tài liệu hỗ trợ luận cứ khoa học để xây dựng định mức xả thải và kiểm tra việc tuân thủ quy chuẩn QCVN 52:2017/BTNMT.

Nhóm doanh nghiệp sản xuất vật liệu lọc và chuyển giao công nghệ môi trường; đề tài mở ra cơ hội thương mại hóa vật liệu vi điện phân chi phí thấp tận dụng nguồn bột sắt công nghiệp phục vụ xử lý nước thải quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao vật liệu bimetal Fe-Cu có hiệu suất xử lý phenol vượt trội hơn bột sắt đơn lẻ? Sự liên kết giữa Fe và Cu tạo nên vô số cặp vi pin Galvanic với chênh lệch điện thế 1,2 V, hình thành dòng điện vi mô liên tục. Quá trình này đẩy nhanh tốc độ hòa tan Fe và tạo ra các nguyên tử hydro hoạt tính trên catot Cu, giúp hiệu suất phân hủy đạt 90,06% và chống thụ động hóa bề mặt tốt hơn bột sắt thông thường.

Tại sao phản ứng nội điện phân Fe-Cu đạt hiệu quả cao nhất ở môi trường pH 3? Môi trường pH 3 cung cấp đầy đủ ion H+ cho phản ứng catot sinh ra các gốc khử hoạt tính, đồng thời giữ cho bề mặt kim loại luôn sạch. Khi nâng pH lên mức kiềm từ 6 đến 8, ion hydroxit tạo màng kết tủa Fe(OH)2 và Fe(OH)3 bao phủ các điểm tiếp xúc kim loại, khiến hiệu suất xử lý suy giảm mạnh xuống 37,54%.

Phương pháp HPLC có ưu thế gì trong việc phân tích phenol trong nước thải luyện cốc? Hệ thống HPLC Waters Acquity Arc tích hợp đầu dò PDA ở bước sóng 272 nm cho phép nhận diện pic phenol sắc nét tại thời gian lưu 3,192 phút. Phương pháp đạt độ tin cậy rất cao với hệ số tuyến tính R2 bằng 0,9968 trong khoảng nồng độ 50 đến 200 mg/L, tách biệt hoàn toàn phenol khỏi các tạp chất hữu cơ phức tạp.

Nước thải luyện cốc của Gang thép Thái Nguyên chứa những thành phần ô nhiễm độc hại nào? Kết quả quan trắc cho thấy nước thải chứa nồng độ phenol cao từ 889 đến 943 mg/L, chỉ số COD từ 625 đến 5038 mg/L, amoni từ 936 đến 2556 mg/L cùng cyanua lên tới 103 mg/L. Các hợp chất hữu cơ vòng thơm này có tính độc cao, khó phân hủy sinh học và đe dọa nghiêm trọng đến sinh vật thủy sinh nếu không được tiền xử lý.

Vật liệu bimetal Fe-Cu có khả thi về mặt kinh tế khi áp dụng ở quy mô công nghiệp không? Vật liệu được chế tạo bằng phương pháp mạ hóa học bột sắt trong dung dịch CuSO4 5% ở nhiệt độ thường với thời gian phản ứng chỉ 2 phút. Nguồn nguyên liệu bột sắt 99,9% phổ biến và không cần cung cấp điện năng ngoài giúp tiết kiệm tối đa chi phí đầu tư và vận hành cho doanh nghiệp luyện kim.

Kết luận

Công trình nghiên cứu của tác giả Đào Mai Giang đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra với 5 kết luận khoa học nổi bật:

  • Chế tạo thành công vật liệu bimetal Fe-Cu bằng phương pháp mạ hóa học với tỷ lệ đồng chiếm 69,30% khối lượng, kích thước hạt phân tán đồng đều dưới 50 µm.
  • Xây dựng hoàn chỉnh quy trình phân tích định lượng phenol bằng phương pháp HPLC ở bước sóng 272 nm với hệ số tương quan tuyến tính đạt 0,9968.
  • Xác định bộ thông số tối ưu phân hủy phenol tại pH 3, liều lượng 1,0 gam trên 100 mL và tốc độ lắc 200 vòng/phút, đạt hiệu suất xử lý lên tới 90,06%.
  • Thử nghiệm thành công trên mẫu nước thải thực tế của Nhà máy Cốc hóa thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên, xử lý triệt để hàm lượng phenol và giảm tải lượng COD.
  • Khẳng định tính ưu việt của công nghệ nội điện phân vi mô trong việc chuyển hóa các hợp chất thơm khó phân hủy thành dạng dễ xử lý sinh học.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là phát triển một giải pháp kỹ thuật có chi phí thấp, hiệu quả cao và thân thiện với môi trường nhằm giải quyết bài toán ô nhiễm nước thải luyện cốc. Trong giai đoạn 6 đến 12 tháng tới, hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung hoàn thiện mô hình tháp phản ứng dòng chảy liên tục và xây dựng quy trình tái sinh vật liệu tự động. Các đơn vị sản xuất luyện kim và doanh nghiệp xử lý môi trường hãy chủ động kết nối hợp tác chuyển giao công nghệ để nâng cao chất lượng nguồn nước xả thải đạt chuẩn quốc gia.